CUỐI NĂM ĐỌC VĂN HỌC TÂY NINH


                                 

 

" Văn học Tây Ninh" tập sách của nhiều tác giả do Hội VHNT Tây Ninh và NXB Thanh Niên ấn hành tháng 12/ 2010 là một nỗ lực tuyệt vời của những người sáng tác văn học trong tỉnh khi kết thúc năm 2010 một năm có nhiều sự kiện quan trọng: Kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng đất nước chào mừng Đại hội Đảng các cấp và hướng về Đại lễ 1.000 năm Thăng Long- Hà Nội.

     Tập sách "bề thế" trang trọng với bìa cứng do họa sĩ Đặng Văn Thức trình bày khổ 16 x 24cm dày 480 trang tập hợp 26 tác giả sáng tác văn học ở khắp nơi trong tỉnh. Đây có thể được coi như một "món quà tặng" đầy ý nghĩa mang màu sắc văn học sinh động của một tỉnh biên giới miền Đông Nam bộ quê hương Tây Ninh trung dũng kiên cường.

     Không phải ngẫu nhiên mà sự sắp xếp các tác giả trong tập lần này lại theo thứ tự...độ tuổi mà không theo sự trật tự thông thường của an-pha-bê! Tác giả mở đầu và lớn tuổi nhất của tập là nhà thơ Cảnh Trà (sinh năm 1937) người nhỏ tuổi nhất ở cuối tập là Hạ Vi Phong (sinh năm 1983) vì sao tôi lại chú ý điều này? Bởi lẽ đơn giản dễ hiểu là dòng chảy sáng tác luôn có người tiếp nối và kế thừa từ thế hệ 3 4x cho đến 8x...là điều thật đáng mừng mong mõi có thêm những 9x và nhiều nữa những cây viết trẻ góp phần hương sắc cho văn học tỉnh nhà.

     Bên cạnh những nhà văn nhà thơ đã thành danh những tên tuổi quen thuộc trong tỉnh  như Cảnh Trà Nguyễn Đức Thiện Trần Hoàng Vy Phùng phương Quý Nguyễn Quốc Việt Nhất Phượng La Ngạc Thụy Nguyễn Văn Tài Phan Kỷ Sữu Vũ Miên Thảo Đào Phạm Thùy trang Đặng Mỹ Duyên...là những gương mặt trẻ: Trương Thứ Bảy Hoàng Nguyên Hạ Vi Phong...đã tạo nên một không khí chung nhiều màu sắc và bút pháp đa dạng cho tập khơi gợi được nhiều vấn đề cho người đọc khi tìm hiểu về văn học của một tỉnh một vùng đất.

     Đó là lối viết tươi tắn phần lớn là những bức "tranh thơ" sinh động về người và vật của vùng quê kiểng Hòa Hiệp Châu Thành. Những bài thơ của nhà thơ Cảnh Trà vừa hóm hĩnh vừa mang tính triết lý của nghệ nhân dân gian " Mùa lúa chín/ Mùa của tuần trăng mật" (Mùa lúa chín trang 11) hay như " Tôi chợt nhận ra/ Có biết bao làng quê trên đất Việt/ Như quả mít/ như Lồ Cồ" ( Ấp Lồ Cồ trang 8) và nhà thơ đã khẳng định " Người Tây Ninh có chất miền Tây/ Người Tây Ninh có chất miền Trung/ Người Tây Ninh có chất miền Bắc/ Vì Tây Ninh là dân miền Đông!". Sự khẳng định ấy cũng đúng thôi bởi Tây Ninh cũng là xứ sở của người xưa mở cõi là nơi tụ hội người của ba miền quần tập làm ăn và sinh sống là sự giao thoa của các vùng miền văn hóa khác nhau kể cả cộng đồng người Khmer người Chăm vì thế cái nét riêng vùng miền cái bản sắc tinh hoa của dân tộc ở Tây Ninh đều có. Song là tỉnh lỵ nhỏ cho nên tầm vóc và bề dày của một nền văn học lâu đời chưa hình thành nên được. Soạn giả Đỗ Thanh Hiền cũng góp mặt vào tập với hai mẫu truyện ghi là "Hồi ức" kể về những kỷ niệm cùng các nhà văn lớp trước ở căn cứ R. và những gian nan vất vả của những người làm "nhà đài" trong kháng chiến chống Mỹ ở vùng giải phóng " Đài phát thanh Giải phóng trên vai chiến sĩ" (trang 26) đã giúp bạn đọc nhất là những bạn trẻ hiểu được thế nào là "ý chí" sự gắn bó "nghĩa tình" và những nguy hiểm vất vả của những người "Chiến sĩ giải phóng" cách đây gần bốn mươi năm!

     Những truyện ngắn và ký của Nhất Phượng La ngạc Thụy Thạch Minh Nguyễn Công Sao Thiên Huy...đều tập trung phản ánh những hoạt động bình dị hàng ngày của người dân Tây Ninh vốn thật thà hiền lành chịu thương chịu khó. Họ là những anh Cựu chiến binh trong truyện của Nguyễn Công Sao Út Ngân của Thạch Minh Tư Nhờ Hai Nhành của Nhất Phượng...như cuộc sống vốn có ở khắp nơi trong tỉnh vậy.

     Thể loại ký bút ký truyện ký tuy chiếm một dung lượng không nhiều nhưng dưới ngòi viết của các tác giả đã phản ánh được hơi thở ấm áp của cuộc sống có thể là tất bật hối hả bởi công việc giúp bạn trồng mới cây cao su ( Minh Phương) hay những trăn trở day dứt của người nông dân trên cánh đồng ( La Ngạc Thụy Trần Hoàng Vy) về con cá cây lúa cây mía hay một phương thức canh tác. Và trong những bề bộn của cuộc sống của xây dựng và phát triển là những khúc lặng về tình đời tình người trong truyện của Nguyễn Đức Thiện Thiên Huy Phùng Phương Quý Đào Phạm Thùy Trang Tuyết Anh...và cả những cảnh báo lên tiếng về sự suy thoái đạo đức những giả dối đố kỵ tham lam bào mòn cuộc sống và kể cả những báo động về môi trường môi sinh của cuộc sống ( Quê hương- dòng sông Lu lu Số đề buổi sáng...). Mảng văn xuôi với nhiều đề tài đã truyền tải và phản ánh đúng hiện thực của cuộc sống thông qua những thủ pháp dựng truyện xây dựng tình tiết và thủ pháp hư cấu đã giúp người đọc tiếp cận với tác phẩm một cách hứng thú cảm nhận và đánh giá được điều mà tác phẩm chuyên chở. Và tôi muốn dành ra vài dòng để viết về một tác giả văn xuôi nhỏ tuổi nhất trong tập là Hoài Nguyên với 2 truyện ngắn đã chạm được vào những đồng cảm của bạn đọc. Truyện ngắn " Lạy trâu" bật trội hơn truyện ngắn "Lá vàng trên thềm rêu xanh" có cái tựa hay như một tứ thơ nhưng chưa thật tròn trịa còn gượng về mặt xúc cảm. Song có thể khẳng định Hoài Nguyên sẽ còn tiến xa và thành công nếu cô thật sự đam mê với văn học.

     Chiếm phần lớn số trang trong tập là mảng thơ với hơn 80 bài thơ của 15 tác giả hầu hết là tập trung ca ngợi những vẽ đẹp của sông núi vùng đất " Thánh địa của Cách mạng". Núi thì có Bà Đen mà theo cảm nhận của Trương Thứ Bảy là " Núi xanh/ Bên cao bên thấp/ Bên chờ chồng- bên thức ru con" ( trang 439) và người thơ hình dung " Dáng mẹ hiên ngang/ Như ngọn núi Bà/ Dáng núi hiên ngang/ Như là dáng mẹ" (trang 439). Sông thì là Sông Vàm Cỏ từ con rạch Rạch Me hòa ra sông Vàm Cỏ Nguyệt Quế đã viết " Chưa chạm vào ngã ba sông/ Đong đưa con nước mở lòng dang tay..." ( Trang 225) còn Nguyễn Quốc Nam một lần trở về thì " Về thăm Vàm Cỏ Đông/ Thuyền ai trôi xuôi dòng/ Hoa lục bình tim tím.../ Tím cả những khúc sông.../ Về bên sông mới biết/ Sông vẫn còn như xưa/ Ôi lòng ta tha thiết/ Trên võng đời đong đưa" (trang 266). Với Nguyễn Thị Kim Liên thì đó là bến sông quê " Đâu rồi những tiếng gươm khua/ Đâu rồi tiếng giã bàng khuya bập bùng/ ... Dập dềnh theo tiếng sóng xô/ Nghe đâu đó tiếng người xưa vọng về..." ( trang 376).

     Thơ vốn nghiêng về phía cảm xúc cùng với cảm hứng thẩm mỹ mà hình thành. Những vần thơ ngợi ca trong tập cho dù là viết về một tấm gương một nhân vật cụ thể cũng sẽ khó đi tận cùng của cảm xúc những ca ngợi cảm tính sẽ làm câu thơ cứng mộc khó thuyết phục. Song nếu khai thác ở mặt chân thành của những gần gũi hay chính bản thân câu thơ lại làm ta lay động. Đó là những câu thơ của Mỹ Duyên " Cũng đành/ Lỡ đục lỡ trong/ Sương treo bông bưởi/ Rớt vòng nhện giăng." Hoặc như " Thơm một miếng vào dấu yêu bữa nọ/ Bữa lăn tăn mà biển cuộn sóng lừng" (trang 397). Với Nguyễn Văn Tài thì " Gương đêm mờ ảo bóng hình/ Ta nhìn ta- Phải ta nhìn ta chăng?/...Mịt mờ sương khói phù vân/ Ta phiêu diêu giữa một lần thấy ta" ( trang 297).

     Tác giả nhỏ tuổi nhất trong tập cũng là tác giả nhỏ tuổi của mảng Thơ là Hạ Vi Phong với 5 bài thơ. Thơ Phong chưa có nét mới nghiêng về truyền thống. Câu chữ chưa thật thăng hoa song khá ý nhị và trong sáng đặc biệt là với lứa tuổi của Phong " Nhỏ đừng mơ nữa nhỏ ơi/ Kẻo trong cổ tích rong chơi quên về" (trang 474) và " Lâu lắm rồi phải không em?/ Từ cái ngày mưa giăng sầu ngang núi/ Con thạch sùng buồn thôi không chắc lưỡi/ Ta ngại ngùng đi về phía không nhau" (trang 472).

     Cũng thật khó mà nhặt ra hết những câu thơ hay lạ ám ảnh ta bởi cảm nhận là vô hạn cũng thật khó khi phải điểm ra tỉ mĩ từng tác giả bởi sự giới hạn của một bài báo. Tôi cũng không có ý định chỉ ra những hạn chế hoặc sai sót của tập "Văn học Tây Ninh" lần này song cũng là ý kiến bên lề. Ví như vẫn còn sai lỗi chính tả khá nhiều. Một chi tiết rất nhỏ thôi: câu " Dưới một gốc Tung cổ thụ" ( trong Ngồi chờ hoàng hôn trang 229) chữ "Tung" không có dấu huyền được in thành " Dưới một gốc Tùng cổ thụ" có dấu huyền là...đủ gây chuyện "lớn" Bởi đất nước chùa Tháp thì tìm đâu ra "cây Tùng cổ thụ" hóa ra tác giả không biết gì? Hay ý kiến về thể loại Văn xuôi không có "Hồi ức" "truyện vui"...ghi như thế là không đúng hoặc như bất chợt lật một truyện ngắn hay một bài thơ thì khó biết ai là tác giả phải mắc công lật lại đầu tìm tác giả hay lật mục lục xem giá mà ở góc phải hoặc trái in tên tác giả thì người đọc đỡ mất công hơn. Một điều hơi tiếc là mảng thơ vẫn có những bài "làng nhàng" trung bình và thiếu nhiều những cây viết như nhà văn Vân An Phan Phụng Văn Khaly Chàm Đặng Hoàng Thái v.v...

     Nhưng dù sao đây vẫn là một đóng góp to lớn của những người viết và Hội VHNT Tây Ninh tập sách vẫn ghi được dấu mốc của chặng đường văn học Tây Ninh trong năm 2010 với đông đảo bạn đọc trong tỉnh và cả nước.

tranhoangvy

Gửi Hoài Khánh.

Hoài khánh thân mến. Hôm trước mình có giới thiệu HK cùng nhóm Nhiệt Đới (văn học Thiếu nhi) không biết đã liên lạc với HK chưa? Năm 2011 chúc HK cùng gia đình an khang- thịnh vượng nhiều sáng tác hay nhé?

tranhoangvy

Gửi Vũ Vĩnh Phúc

Vũ Vĩnh Phúc thân mến. Đã nhận được món quà âm nhạc hay lắm. Hôm trước có nhắn tin cho Phúc nhưng không thấy trả lời? Cám ơn vế lời chúc. Chúc VVP và gia đình năm mới nhiều niềm vui có nhiều sáng tác hay.

tranhoangvy

gửi Mai Thanh Tịnh

Mai Thanh Tịnh thân mến. Rất vui vì Mai Thanh Tịnh ghé thăm và chúc năm mới. Chúc MTT và gia đình năm mới an khang- thịnh vượng.

tranhoangvy

Gửi Phan Văn Quang

Cám ơn về tấm thiệp chúc mừng năm mới của Phan Văn Quang. Năm 2011 chúc Quang và gia đình luôn thật nhiều niềm vui hạnh phúc. Thân mến

Hoài Khánh

Gửi nhà thơ Trần Hoàng Vy

Ấm áp yêu thương
An lành hạnh phúc
Tài lộc sung túc
Gia đình ấm êm
Thêm bạn mến thân
Đưa tiễn năm Dần
Đón xuân Mão đến !

Vũ Vĩnh Phúc

Cuối năm ghé thăm anh.
Chúc anh năm mới 2001 với nhiều thắng lợi mới.

Mai Thanh Tịnh

Chúc mừng Năm mới

Photobucket

phanvanquang

chuc mung nam moi

Photobucket