thơ ca Tây Ninh chặng đường khám phá và tìm kiếm


NHÂN NGÀY THƠ VIỆT NAM (15/1 NĂM TÂN MÃO 2011) QTVC ĐĂNG BÀI NGHIÊN CỨU VỀ THƠ CA TÂY

NINH DO TÀI LIỆU ÍT ỎI NÊN BÀI VIẾT CHẮC CHẮN SẼ CÒN NHIỀU THIẾU SÓT RẤT MONG CÁC BẠN

NHÀ THƠ VÀ BẠN YÊU THƠ GÓP Ý ĐỂ BỔ SUNG BÀI VIẾT ĐƯỢC HOÀN CHỈNH HƠN.

sông Vàm Cỏ Đông và núi Bà Đen.


 

THƠ CA TÂY NINH CHẶNG ĐƯỜNG KHAI PHÁ VÀ TÌM KIẾM

* Trần Hoàng Vy.


1. Lịch sử đất Tây Ninh:

Vào giữa thế kỷ 17 Tây Ninh khi ấy còn là đất hoang vu nhiều rừng rậm đầm lầy và thú dữ. Dân bản địa gồm một số người Khmer gọi Tây Ninh là Romdum Ray ( Tức là Chuồng Voi).Chiến tranh Trịnh - Nguyễn kéo dài gần nửa thế kỷ ( 1627- 1672) nhân dân lầm than cực khổ. Các tỉnh Quảng Trị Quảng Ngãi Bình Thuận liên tục bị đói kém mất mùa dân chúng bỏ làng di cư vào Nam đến cửa Cần Giờ khai hoang lập ấp thành Phiên Trấn Dinh tức gia Định và từ đó lần lên hướng Bắc khai thác mở đất từ Trảng Bàng lên Gò Dầu Hạ đến chân núi Bà Đen thành đạo Quang Phong của Phủ Gia Định từ năm 1698 năm 1838 trở thành Phủ Tây Ninh của tỉnh Gia Định.

Theo sách Đại Nam nhất thống chí thì " Phủ Tây Ninh cách tỉnh thành 147 dặm. Đông Tây cách nhau 103 dặm. Nam Bắc cách nhau 95 dặm. Phía đông đến địa giới huyện Bình Long Phủ Tân Bình 66 dặm phía Nam giáp 2 huyện Bình Dương và Cửu An 77 dặm; phía Bắc vượt núi Chiêng ( Bà Đen) giáp đất Miên 18 dặm..."

Năm 1858 thực dân Pháp nổ tiếng súng xâm lược đất nước ta. Tây Ninh bị chiếm (1861) và được sát nhập về Sài gòn mãi cho đến Cách Mạng tháng 8/ 1945 Tây Ninh cùng miền Nam mới trở về tay nhân dân. Nhưng sau đó lại thuộc chính quyền Sài Gòn cho đến ngày 30/4/1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Tây Ninh luôn là một mảnh đất lửa nóng bỏng. Người dân kiên trinh trung dũng kiên cường. Tây Ninh là "Đất Thánh" của một vùng đạo Cao Đài hiền hòa thơ mộng với con sông Vàm Cỏ êm đềm và ngọn núi Bà Đen cao nhất miền Đông Nam bộ đầy huyền thoại. Tây Ninh còn là "Thánh địa" của Cách mạng với nhiều vùng căn cứ nổi tiếng đặc biệt là khu căn cứ TW. Cục là chiến khu "đầu não" của Cách mạng miền Nam.

2. Thơ ca Tây Ninh trong từng giai đoạn phát triển:

Vì là một vùng đất mới khai khẩn trong tiến trình mở cõi của người dân Việt lại là đất "biên cương" phên dậu của Tổ quốc có lẽ con người Tây Ninh phần nhiều dành tâm huyết cho việc thuần hóa đất đai chăm sóc ruộng lúa nương rẫy phần lo chống chọi với thời tiết khắc nghiệt của cái nắng "nung người" và trên hết là nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cương thổ. Người Tây Ninh ít có dịp tổ chức các hoạt động mang tính chất "văn học" nên suốt một thời kỳ dài chưa thấy sự "phát tích" của những cây bút nhà văn nhà thơ có tên tuổi như những mảnh đất khác của đất nước.

Tra cứu thư tịch tìm trong các tài liệu ít ỏi mà chúng tôi có được người Tây Ninh thành đạt trên mặt "văn học" dưới thời phong kiến thực dân Pháp dường như không có. Trong phạm vi của bài nghiên cứu nhỏ này chúng tôi đặc biệt quan tâm đến mảng Thơ ca của vùng đất Tây Ninh xin tạm chia nhỏ các giai đoạn:

a) Thời kỳ khai khẩn thành lập đất Tây Ninh (1650- 1860):

 Đầu và cuối giai đoạn này là cuộc phân tranh Trịnh- Nguyễn sau đó là cuộc chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh dân tình ly tán. Tập trung vào việc mở đất củng cố làng xã gìn giữ biên giới chưa tìm thấy những tác phẩm thơ ca phản ánh cuộc sống của con người Tây Ninh và của con người Tây Ninh sáng tác nổi tiếng trên thi đàn (?).

b) Thời kỳ Pháp thuộc (1861- 1945):

Giai đoạn này thơ ca Tây Ninh vẫn chưa thấy xuất hiện (?) chủ yếu chỉ những bài cảm tác hoặc tiếc thương của các bậc nhân sĩ nhân dân đối với những bậc tiền bối chống lại thực dân Pháp đã hy sinh như ông Hoàng  Pu Cầm Pô Lãnh binh Tòng Lãnh binh Két anh em Huỳnh Công Giản Huỳnh Công Nghệ v.v...

Mùa xuân năm 1901 theo sách "Tây Ninh xưa và nay" của Huỳnh Minh thì làng thơ Tây Ninh tổ chức cuộc hành hương lên núi Điện Bà có mời nữ sĩ Sương Nguyệt Anh (Con gái cụ Đồ Chiểu) tham dự và tại đây nữ sĩ đã hứng bút đề thơ vịnh hoa Bạch mai trên núi : " Non linh đất phước trổ hoa thần/ Riêng chiếm vườn hồng một cảnh xuân/ Tuyết đượm nhành tiên in sắc trắng/ Sương pha bóng nguyệt ánh màu ngân/ Mây lành gió tạnh nương hơi chánh/ Vóc ngọc mình băng bặt khói trần/ sắc nước hương trời nên cảm mến/ Non linh đất phước trổ hoa thần" cùng với hai bài thơ chữ Hán là " Linh sơn nhất thụ mai" và bài " Hựu". Theo nhiều người thì đây có lẽ là những bài thơ đầu tiên viết về hoa bạch mai trên núi Bà.

Từ năm 1915 trở đi cũng theo tác giả Huỳnh Minh nhóm nhà thơ tiền bối ở Tây Ninh thường hội họp để ngâm thơ xướng vịnh có các cụ: Tô Ngọc Đường Huỳnh Văn Tâm hương lễ Tịnh Võ Sâm còn gọi là ông giáo Xôm nổi tiếng trên văn đàn với tác phẩm " Thi phú văn từ" được giới văn học nhiệt liệt tán thưởng.

Nối gót các danh sĩ trên có cụ Quốc Biểu Nguyễn Văn Hiến thành lập văn đàn Quốc Biểu trong năm 1923 gồm các ông Thanh Vân Nguyễn Toại Chí Thanh Phong Nguyễn Văn Trí lâm tuyền Võ Trung Nghĩa tân sắc Võ Văn Tấn Sầm Sơn Sầm Văn Đá Nguyễn Văn Vàng Du Tử Mai Huê cổ lệ Lê văn Thành Nhà Quê Dương Văn Kim Nhất Thiện Huỳnh Long Huỳnh Văn Cầu.

Dòng chảy của thơ ca trong giai đoạn này thường là thơ cảm tác xướng họa gắn liền với thú du sơn ngoạn cảnh người làm thơ hướng về nét đẹp đạo đức của đạo và đời có những bài thơ ca ngợi công đức ý chí chống giặc ngoại xâm của tiền nhân. Thơ gắn liền với thực tế dầu sôi lửa bỏng và cuộc sống cơ cực lầm than của người dân dường như còn ít? Việc quảng bá rộng rãi ra các vùng miền phụ cận và cả nước không có đa phần mang tính chất nội bộ. ( CÒN TIẾP)