THƠ HAY Tạ Văn Sỹ

By

 

Nhà thơ Tạ Văn Sỹ Hội viên HNVVN hiện đang sống và viết tại Kontum bài "Thơ hay" dưới đây cũng là một ý kiến khá thú vị của nhà thơ. QTVC xin được trân trọng giới thiệu bài viết của Tạ Văn Sỹ đến các bạn yêu văn chương.

 

* Lời thưa: Một mình giữa rừng buồn sực nghĩ viết chơi. Những “ngẫu hứng” bất chợt này là nằm trong dự định một tập hợp mang chung nhan đề “Ý nghĩ rời” của tôi. Toàn bộ thơ dẫn dưới đây đều chép theo trí nhớ vì không sẵn sách tra cứu. (Có bài đọc và thuộc từ năm 1972). Chỗ nào sai nguyên văn xin chữa lại sau. Tôi thì đang “nhàn” nên thích “đàm” bạn nào rảnh rỗi thì đọc cho vui có gì trao đổi. Cũng là một cách học hỏi lẫn nhau để lấp bớt lỗ hổng tư duy kiến thức của mình. 

Thơ hay có nhiều kiểu. Kiểu dễ thấy nhất là hay toàn bài. Thứ hai là những đoạn thơ hay. Tiếp nữa là có những câu hay. Riêng cái khoảng những từ hay trong thơ thì ít được nhận ra và cũng ít được để ý đến.

Bài hay: Trường hợp này có nhiều khó chứng luận trong một bài tản mạn nhàn đàm. Đại khái: Bài thơ hay là bài được nhiều người cùng thích thuộc được truyền lưu trong dư luận qua thời gian. Thế nào là hay thì xin để cho một bài lý luận văn học. Ở đây chỉ xin thưa: Ngay một bài thơ được nhiều người thích thuộc (tức hay) cũng không hẳn đã là hay tuyệt đối đến từng đoạn từng câu từng chữ một mà nhìn tổng thể chỉ biết là nó… hay! Có bài hay ở tứ có bài hay ở từ. Cũng có trường hợp bài này hay với người này còn bài kia hay với người kia! Nhà thơ Tế Hanh có lần trả lời phỏng vấn trên tạp chí Tác phẩm mới đại ý: Văn chương nghệ thuật là vô cùng nên cái hay cái dở của nó cũng vô cùng! Cứ ngỡ cụ nói cho qua chuyện “ba phải!”! Nhưng ngẫm lại mà xem nó quả là thế thật! Cũng ý ấy Cụ Tú Thành Nam (Trần Tế Xương) trước đây cũng đã “phát biểu” rõ ràng: -“Văn chương đâu phải là đơn thuốc/ Chớ có khuyên xằng chết bỏ bu”!...

Ví dụ bài thơ hay ở cách lập tứ (thơ Nguyễn Bắc Sơn): -“Đêm Phù Cát dẫu ngoài trời rất lạnh/ Nhưng trong ngôi nhà tranh của thi sĩ Hồ Bang/ Có tình bạn nồng nàn như rượu chôn nhiều năm dưới đất/ Có câu chuyện tình thi vị mang mang/ Ta nghĩ đàn bà người nào cũng như người nấy/ Nên một đời ta nhớ nhớ quên quên/ Nhưng lại nghĩ đàn bà đâu phải người nào cũng như người nấy/ Nên một đời ta cứ phải theo em/ Ta nghĩ trời sinh mỗi mình ta là đủ/ Bởi đám đông quấy bẩn nước hồ đời/ Nhưng lại nghĩ trời sinh thêm bè bạn/ Để choàng vai ấm áp cuộc rong chơi/ Dẫu mỗi ngày bóc đi năm mười tờ lịch/ Cũng không làm cho ngày tháng qua nhanh/ Dẫu đen bạc là nơi cố xứ/ Nhưng đi biền biệt cũng không đành”! Còn đây là bài hay ở ngôn từ hình tượng (thơ Hoàng Lộc): -“Ngôi trường bây giờ em theo học/ Mười năm xưa ta cũng đi về/ Ôi mười năm một thằng xuôi ngược/ Những điều trong mộng đã vàng hoe/ Ngày ấy bạn bè hơn trăm đứa/ Mà ta hồ dễ đã thua ai/ Ngày ấy xa trường hơn trăm đứa/ Sao mỗi mình ta lỡ vận hoài/ Ta có yêu đôi người gái đẹp/ Tình như mây một thuở tan rồi/ Và em cũng là… là gái đẹp/ Nên sợ tình ta còn mây trôi/ Em chớ vội cười ta bất nghĩa/ Mười năm không ghé lại thăm trường/ Em cứ chê lòng người dâu bể/ Đâu có hay đời ta tang thương/ Những lúc mơ hồ nghe tiếng gió/ Ta riêng cơn lốc dậy trong hồn/ Em chắc ham vui ngày sách vở/ Đâu có hay vai người gió sương/ Những lúc về ta rơi nước mắt/ Qua trời thị xã cổng trường xưa/ Mười năm đời ta lăn khổ nhọc/ Còn gõ buồn tênh khúc nhặt thưa…”!

Đoạn hay: Là những đoạn ngắn nổi trội lên trong một bài thơ  (dĩ nhiên bài ấy không phải là thơ dở vì thơ dở không thể nào có được đoạn hay). Đây chỉ là khoảng đệm giữa câu hay và bài hay xin để dịp khác “nhàn đàm” tiếp vì ai cũng có thể tìm ra.

Câu hay: Cũng như bài hay câu thơ hay là những câu được người đời truyền tụng nhiều nhất được vận dụng vào bất cứ sự kiện gì thời điểm nào. Nó như “câu cửa miệng” thường ngày. Có khi người ta chỉ nhớ câu thơ mà quên mất nhan đề bài thơ cũng như tên tác giả. Nó là “đột biến gien” trong một bài thơ. Gặp câu thơ hay người đọc dễ nhận ra những câu độn đệm làm đà cho nó bật nảy lên. Câu hay thường thiên về khái luận một cảm nghiệm suy nghiệm chiêm nghiệm nào đó mang tính triết lý châm ngôn. Ví dụ đoạn thơ Phan Khôi; -“Tuổi già thêm bệnh hoạn/ Kháng chiến thấy thừa ta/ Mối sầu như râu tóc/ Cứ cắt lại dài ra”!. Nếu không vì hai câu sau thì vứt hai câu trước đi chẳng tiếc. Nhưng không có cái đà của hai câu trước thì hai câu sau không thể từ lỗ nẻ chui lên được! Hoặc như thơ xua bây giờ mấy ai còn nhớ cả bài nhưng: -“Giai nhân tự cổ như khanh tướng/ Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu” (Xưa nay người đẹp như danh tướng/ Đâu để nhân gian thấy bạc đầu) thì còn lưu mãi… Có thể ví câu hay giống như phần gọi là “Thơ” trong một bài Hát nói giữa hai Mưỡu. Những câu khác trong bài chỉ để “nói” (tức hát) hai câu này mới là điểm chốt tóm thâu toàn bộ thần khí của bài.

Từ hay: Trường hợp này hiếm hoi hơn nhưng không phải không có. Nó thường rơi vào tay các văn tài thực thụ có tố chất của bậc “hùng bút” kiểu “Tuổi chưa bao nhiêu văn rất hùng” (Tản Đà) có tầm xúc cảm “đạt đỉnh” khi ý thức và ngay cả trong những phút giây xuất thần vô thức. “Vô thức” này không có nghĩa không ý thức mà vì là tài năng bẩm sinh nên nó nghiễm nhiên có sẵn đâu đó trong thẳm sâu cảm xúc sáng tạo rồi bất ngờ gặp dịp thì vụt lóe lên thôi! Đôi khi nó vụt nảy ra trước khi tác giả kịp chọn lựa hay nghĩ đến nữa kia! Xin vài ví dụ: Bài Tống biệt của Tản Đà: -“Lá đào rơi rắc lối thiên thai/ Suối tiễn oanh đưa những ngậm ngùi/ Nửa năm tiên cảnh/ Một bước trần ai/ Ước cũ duyên thừa có thế thôi/ Đá mòn/ Rêu nhạt/ Nước chảy/ Huê trôi/ Cái hạc bay lên vút tận trời/ Trời đất từ đây xa cách mãi/ Cửa động/ Đầu non/ Đường lối cũ/ Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi”! Từ “Chơi” hạ xuống “nhẹ như lông hồng” mà gợi mở ra mênh mang một nỗi tiếc nuối hụt hẫng chơi vơi buồn thăm thẳm giữa cõi trống không trời đất tiêu sái phiêu bồng khi kẻ tiên người tục mãi mãi biệt ly. Bài Đêm Thu cũng của Tản Đà: -“Đêm Thu buồn lắm chị Hằng ơi/ Trần thế em nay chán nữa rồi/ Tiên cảnh đã ai ngồi đó chửa/ Cành đa xin chị nhấc lên chơi/ Có bầu có bạn can chi tủi/ Cùng gió cùng mây thế mới vui/ Rồi cứ mỗi năm rằm tháng Tám/ Cùng nhau trông xuống thế gian cười”! Dừng lại ở từ “cười” mà xem. Dường như thoáng một nét xếch môi trong cái cười vừa hiu hắt vừa kiêu mạn của kẻ mệt mỏi chán chường khinh thế ngạo vật cõi trần gian ô trọc. Bài Nguyệt cầm của Xuân Diệu: -“Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh/ Trăng thương trăng nhớ hỡi trăng ngần/ Đàn buồn đàn lặng ôi đàn chậm/ Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân/ Thu rộng càng thêm nguyệt tỏ ngời/ Đàn ghê như nước – lạnh – trời ơi/ Long lanh tiếng sỏi vang vang hận/ Trăng nhớ Tầm Dương nhạc nhớ người…”! Chạm phải từ “lạnh” bỗng giật thột mình vì cảm giác… sởn gai ốc lạnh cả người! Đồng Đức Bốn có câu: -“Đừng buông giọt mắt xuống sông/ Anh về dẫu có đò không cũng chìm”! “Giọt mắt” là từ sáng tạo tuyệt vời của tác giả xin sẽ nói vào dịp khác chỉ xin để ý từ “chìm” là từ có sẵn bình thường thôi nhưng vào đây thì nó đã thành từ “thần” từ hay! Thôi em quay mặt đi đừng buông cái “giọt mắt” ấy theo anh để đến nỗi không khéo đò ngang sẽ chìm mất vì khẳm nặng nỗi niềm nhớ thương vương vấn đang chất chứa trong lòng anh đây này! Đoạn thơ Trần Dzạ Từ: -“Lần đầu ta ghé môi hôn/ Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang”! Ve biết gì mà “hết hồn” chính “anh” và “ả” tuổi học trò mới “hết hồn” trong cơn rung cảm đầu đời giữa nụ hôn chia tay mùa hạ đấy chứ!

Chuyện thơ hay thơ dở là “truyện dài kỳ”. Làm được bài thơ (hay) đã khó đọc thơ càng khó hơn. Đây chỉ là một ít ngẫu hứng khi bất ngờ nhớ lại những dòng thơ mình yêu thích. Còn nhiều lắm xin hẹn dịp trở lại nữa.

TẠ VĂN SỸ

More...

CHỮ BẦU LÊN NHÀ THƠ Hoàng Chiến Thắng

By

Văn NGhệ Tiền Giang số 39 có bài "Chữ Bầu lên nhà thơ" của Hoàng Chiến Thắng QTVC mạn phép post lại bài viết để các bạn cùng đọc.

 

 

Ngôn ngữ giao tiếp khác với ngôn ngữ thơ ca. Cũng như chữ viết trong một vài trường hợp nhất định không còn là “chữ” theo cách hiểu thông thường. Vậy cái sự bất bình thường ấy của con chữ nằm ở đâu? Chẳng đâu cả bởi bản thân nó vốn dĩ đã là chữ rồi. Như vậy thì mâu thuẫn quá! Đúng rất mâu thuẫn tuy nhiên “chữ” ở đây trong câu nói của nhà thơ Lê Đạt ta nên hiểu là “chữ” của sự sáng tạo “chữ” của văn chương.

Nhà thơ là người cày ải trên cánh đồng chữ trong quá trình miệt mài kiếm tìm ý tưởng họ đồng thời sáng tạo ra nó hay chỉ đơn giản là lựa chọn trong triệu triệu ngôn từ để diễn đạt ý bài thơ mà họ đã lập tứ từ trước. Nếu vậy chẳng hóa ra chữ chỉ là phương tiện truyền tải sao? Nếu suy xét theo khía cạnh này ta thấy hình như không được công bằng cho lắm. Bởi một nhẽ phàm là “chữ” của văn chương của thi ca thì trước nhất đó phải là chữ của sự sáng tạo nghệ thuật. Theo như nhà thơ Lê Đạt thì “văn và ý ngang nhau cũng có thể ý có trước hoặc văn có trước nếu ý đến trước thì phải tiếp nhận nó và nếu chữ đến trước thì phải mở cửa mời nó vào không được đuổi nó đi. Nhà thơ phải lễ phép với chữ. Nhà thơ quan liêu với chữ là nhà thơ vứt đi”. Từ sự san sẻ ấy ta thấy vai trò của chữ với nhà thơ quả không nhỏ. Sẽ chẳng có nhà thơ nếu không có “chữ” của sự sáng tạo đó là thành tố quyết định thành bại tác phẩm của nhà thơ. Và hiển nhiên từ lập luận ấy ta có một hiện thực không thể phủ định đó là “Chữ bầu lên nhà thơ” theo cách nói của nhà thơ Lê Đạt. Và như vậy nhà thơ trước hết phải là phu chữ là người cần mẫn không chỉ kiếm tìm trên cánh đồng ngôn từ mà còn phải biết gieo mầm nó. Nên chẳng phải ngẫu nhiên mà Maiakôpxki nói “Lấy một chữ phải mất hàng tấn quặng ngôn từ” sàng lọc và lựa chọn là công việc của nhà thơ. Họ đãi chữ để tìm ra những từ đắc địa cho bài thơ của mình. Sẽ chẳng có bài thơ hay nếu câu chữ vụng về và như vậy chỉ vì lười biếng trong tìm kiếm sử dụng ngôn từ mà người viết đã làm chết ý chết tứ của cả bài thơ và dĩ nhiên anh sẽ chẳng thể là nhà thơ khi sản phẩm của anh là những bài thơ dở.

Nhà thơ Valéry của Pháp từng nói: “Thượng đế bao giờ cũng miễn phí cho nhà thơ câu thứ nhất” - “Để khuyến khích anh ta tiếp tục câu thứ hai đừng xoàng quá”. Còn nhà thơ Lê Đạt thì nhận định: Những câu thơ hay thường là sản phẩm của công ty hợp doanh giữa thượng đế và phu chữ. Nhà thơ phải suốt đời cần cù chữ. Phải có sự trao đổi giữa chữ và nhà thơ nhà thơ với chữ nhà thơ phải dân chủ với chữ phải để chữ có quyền dân chủ và tham dự cuộc bầu cử.

Rõ ràng chữ đã bầu lên nhà thơ. Và như vậy cũng thấy được sự đòi hỏi của chữ với người sáng tạo ra nó. Và tất nhiên cái sự đòi hỏi ấy là chính đáng. Muốn có những câu thơ hay bài thơ hay phải có những từ đắc địa như vậy ý và tứ của bài thơ mới chỉ làm được năm mươi phần trăm điều đó. Năm mươi phần trăm còn lại là gì? Đến đây ai cũng có thể trả lời được. Nhưng làm thế nào để có năm mươi phần trăm ấy? Theo như tâm niệm của nhà thơ Lê Đạt thì trước nhất “Nhà thơ phải nhọc mệt phải là phu chữ. Chữ bầu lên nhà thơ”. Làm được điều này anh sẽ là một nhà thơ. Chỉ khi vậy người đọc mới thấy được sự giao thoa giữa nghĩa và chữ bởi nó chỉ được phác thảo mờ khuất sau bóng chữ. Điều đó khiến bài thơ hay hơn lên lấp lánh hơn lên và dĩ nhiên người viết sẽ là nhà thơ thực sự. Câu thơ có nghĩa là câu thơ hay điều này chỉ đúng trong một vài trường hợp nhất định. Câu thơ hay hiển nhiên phải là câu thơ có nghĩa nhưng như vậy mới chỉ là điều kiện cần chưa phải là đủ. Do vậy câu thơ hay cần khẳng định thêm phải là câu thơ lấp lánh cái sự lấp lánh ấy là sự lấp lánh bởi những từ đắc địa nó khác với cái lấp lánh của những câu chữ sáo rỗng xủng xoảng. Cái lấp lánh của những câu chữ xủng xoảng là cái lấp lánh bề ngoài nông cạn thậm chí làm rối nghĩa tối nghĩa. Khi nhà thơ cần mẫn với chữ thì sẽ có sự lựa chọn phù hợp nhất để diễn đạt ý cần nói. Ngôn ngữ thường được nhận định là vỏ bọc của tư duy người viết biết dung hòa hai yếu tố đó để phục vụ cho ý tưởng của mình nó sẽ đẩy cao được hơn lên giá trị của tác phẩm ý đồ nghệ thuật và tư tưởng của nhà thơ cài cắm trong đó. Nhà thơ thổi hồn vào tác phẩm thông qua ngôn ngữ thơ ca và tất yếu phải dựa vào chữ điều đó cho ta thấy “Chữ bầu lên nhà thơ” là một mệnh đề luôn luôn đúng.

Bài thơ hay đôi khi chỉ vì một câu thơ hay một câu thơ hay khi có từ đắc địa. Dùng từ đắc địa làm lấp lánh cả ý cả tứ cũng như cảm xúc của nhà thơ. Từ đắc địa thực sự chỉ được nhận diện khi nhà thơ không thể thay thế được nó bằng một từ nào khác. Để làm được điều này đòi hỏi người viết phải cần mẫn tìm tòi sáng tạo. Giữa ngút ngàn ngôn từ ấy làm sao người viết có thể nhận diện được đâu là từ đắc địa điều này càng khẳng định cái sự vất vả của nhà thơ nhưng phàm là nhà thơ nhất thiết anh phải làm được điều đó. Ngoài những bài thơ hay thảng hoặc độc giả cũng bắt gặp những câu thơ đắc địa. Để có câu thơ đắc địa đòi hỏi người viết phải có vốn ngôn từ phong phú vốn sống dồi dào và hơn cả phải là một tri thức thực sự. Ví như câu thơ “Mưa rơi không cần phiên dịch” của nhà thơ Trần Dần là một câu thơ đắc địa điển hình. Hay bài “Bóng chữ” của Lê Đạt “Người về” của Hoàng Hưng…

Ta thử thay thế từ “đắc địa” trong một vài câu thơ hay sẽ thấy ngay được vai trò của chữ ví dụ như : Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang/ Hoa cười ngọc thốt đoan trang. Trong đoạn tả vẻ đẹp Thúy Vân Nguyễn Du đã rất tài tình và công phu trong việc dụng từ. Nếu thử thay từ “thốt” bằng một từ khác chúng ta sẽ thấy câu thơ bị giảm nghĩa rất nhiều thậm chí là vô duyên tối nghĩa. Trong trường hợp này thì không thể có từ nào thay thế nổi. Hay như trong bài “Bóng chữ” của Lê Đạt chúng ta sẽ thấy khả năng dụng từ của nhà thơ. Bài thơ rất kiệm lời và đặc biệt là câu cuối của bài làm người đọc ngẩn người thán phục: Chiều âu lâu/ bóng chữ động chân cầu.bóng chữ” nếu ta thay bằng “bóng người” thì sao nhỉ? Hay như: Đừng buông giọt mắt xuống sông/ Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm (Đồng Đức Bốn). Nếu thay “giọt mắt” bằng “ánh mắt” thì câu thơ chỉ ở vào mức độ trung bình khá.

Ngôn ngữ trong văn học là ngôn ngữ mang tính cá thể cao độ thuộc về từng tác phẩm tác giả do đó luôn đòi hỏi người viết phải nhận định được ngôn từ cần sử dụng. Và tất yếu mỗi người viết mỗi nhà thơ đều cần có một hệ từ vựng riêng biệt. Sự nhặt nhạnh ngôn từ không chỉ giúp nhà thơ có vốn từ phong phú mà còn giúp cho nhà thơ dễ có nhận định về nó trong mỗi tác phẩm.

Người viết chỉ trở thành nhà thơ khi họ biết sử dụng đúng chỗ đúng lúc những ngôn từ trong vốn từ vựng hỗn độn của mình. Nên có thể khẳng định “Chữ bầu lên nhà thơ” là một mệnh đề đích đáng.

Hoàng Chiến Thắng (Theo Văn nghệ TG số 39)

 

More...

hỏi chuyện thơ hay với nhà thơ NGUYỄN VŨ TIỀM

By

* NHÀ THƠ NGUYỄN VŨ TIỀM (TRÁI) VÀ THV.

 

 

 

Dự trại viết của Hội NVVN lần này tại Đà Lạt (tháng 3/2011) tôi may mắn được ở cùng phòng với nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm tác giả của nhiều tập thơ đặc biệt là tập sách nghiên cứu chọn lọc “ Nghìn câu thơ tài hoa” và trường ca Văn đàn bi tráng được nhiều người ưa thích tìm đọc.

Nguyễn Vũ Tiềm đã vượt qua lứa tuổi “Xưa nay hiếm” ( anh sinh năm 1940 tại Gia Lâm Hà Nội) song dáng vẽ vẫn còn “ phong độ” và tráng kiện lắm cao trên một mét bảy lúc nào cũng tinh tươm trong bộ vét màu xám nhạt sử dụng Laptop khá thành thạo. Quan niệm và tiêu chí của anh về thơ phải là “thơ hay” thơ “thứ thiệt”!

Chợt nhớ những câu thơ trong Văn Đàn bi tráng dường như anh đang soi rọi lại chính mình: “ Tôi ngốn hơi bị nhiều tác phẩm đặt hàng gia công/ Văn hợp đồng khuyến mãi/ Thi phẩm cổ đông/ Bình văn cổ phiếu/ Thơ mỹ nhân kế suýt chết chìm mấy phen…” và đó là những hư đốn của thứ văn chương thứ cấp tầm thường mạ vàng phủ dụ những non nớt của suy nghĩ và của ngòi bút: “ Cười câu thơ giả dối/ Khóc câu văn lý tài”. Mặc dù anh có những bài thơ câu thơ thuộc hàng “cao thủ” có nhiều người tâm đắc. Ví như bài tứ tuyệt mang tên “Bão” : “ Gẫy lái đứt neo tàu thoát qua rốn bão/ Anh nguyên lành về lại căn phòng em/ Bỗng gặp cơn bão nhà không triều không sóng/ Chiến hạm đời anh lặng lẽ cất neo. Chìm”. Có lẽ chính vì vậy mà anh muốn luôn tìm tòi phát hiện săn đuổi những câu thơ tài hoa?

Hỏi : “ Anh nghĩ gì về những bài thơ những tác phẩm của anh được in từ “ Nữ hoàng trái cây” (1987) “Chia tay võ sĩ dế” ( 1988)… cho đến nay?”. Anh thật lòng khẳng khái trả lời : “ Từ khi có thời giờ nghiên cứu sâu về thơ và thi pháp của nhiều tác giả trong nước và thế giới tôi nhận thấy… gần ¾  tác phẩm của tôi là…vứt đi vì sự dễ dãi đơn điệu và không tài hoa!”.

Vậy tài hoa của một câu thơ một bài thơ hay nói cụ thể một bài thơ hay là gì? Nguyễn Vũ Tiềm chợt cười cái cười hồn hậu của bậc trí nhân : “ Đọc để V. tự suy nghĩ nhá? Khác thường đột biến bất ngờ/ Đến ngã ba ấy hỏi thơ chỗ nào?..”

Cái ngã ba của Khác thường- của Đột biến- của Bất ngờ ư? Đấy là yêu cầu của thơ tài hoa của thơ hay. Có lẽ nhiều người làm thơ ngày nay ít có người để ý đến những điều này. Làm theo cảm hứng theo sự tuôn trào của mạch cảm xúc. Thơ có tình nhưng thiếu “lý trí” cần thiết. Đọc như nước tuôn trên phiến lá mềm ẻo lả nhưng chưa và không để lại một ấn tượng gì!

Cuộc bàn bạc thơ nói chính xác hơn là tôi đang nghe đang học từ Nguyễn Vũ Tiềm có khi kéo vào lúc 11 12 giờ đêm khi cả hai đang khắc khoải vì một tứ thơ một câu thơ vừa chớm. Nguyễn Vũ Tiềm cho tôi biết anh đã rút tỉa và đúc kết được qua hàng ngàn câu thơ tài hoa thành một quy tắc cho mình khi sáng tác đó là X.S.C và anh lý giải:

X tức là Xúc cảm một yếu tố không thể thiếu trong sáng tác nhưng xúc cảm phải thật độ chín muồi đòi hỏi phải giải tỏa ra ngòi viết trên bàn phím. Lúc đó hãy ngồi để viết.

S là Suy nghĩ nhưng suy nghĩ phải “khác thường” tức là nghĩ đến điều mà người ta chưa nghĩ và không ai nghĩ. Thơ phải hướng đến một suy nghĩ mới lạ không trùng lắp…

Còn C là gì ? Đấy chính là “ cách nói khác thường”  khác thường đôi khi tưởng chừng là cách nói vô lý nhưng lại hoàn toàn hợp lý về mặt triết luận. Điều này sẽ để lại dấu ấn đặc biệt cho người đọc khi tiếp nhận những câu thơ  có cách nói khác thường này. Để minh họa nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm đọc luôn hai câu thơ “ Tôi kinh doanh thường xuyên có lãi/ Nhưng ngẫm ra lỗ cả một đời”. Một cách phản biện gây dấu ấn ở cái ý “ có lãi” nhưng lại “ Lỗ cả một đời” vì sao như thế? Người đọc sẽ băn khoăn suy diễn và tìm cho mình cái ẩn số mà nhà thơ muốn thông báo. Tất nhiên điều này lại tùy thuộc vào trình độ kiến thức và bề dày kinh nghiệm của từng đọc giả.

Tư duy thơ bao gồm từ ngôn ngữ hình tượng đến liên tưởng. Để chọn ra một từ ngữ hay hình ảnh thơ cần phải “rèn luyện” nhiều cho tư duy. Dễ dãi hời hợt tư duy cũng sẽ cho ra những câu thơ dễ dãi hời hợt. Càng đắm sâu chiêm nghiệm sẽ có những hình ảnh mà sức liên tưởng sẽ hướng đến những vi diệu tinh ảo của trí tuệ của thơ… Có lẽ chính vì vậy làm được những câu thơ ưng ý người làm thơ phải lao tâm khổ tứ ghê lắm. Hai câu thơ sau của nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm đã thể hiện điều đó: “ Nhiều lá phiếu giọt mưa ào ào thả xuống/ Bầu cho nỗi buồn vừa ứng cử vào tôi”.

Thơ là gì? Và Thơ hay là gì? Từ xưa đến nay đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau. Cũng giống như nấu một món ăn nhiều người có những kinh nghiệm và bí kíp khác nhau. Song có một thống nhất chung: Ấn tượng được nhiều người ưa thích. Quan trọng hơn là tồn tại với thời gian. Thơ hay thơ tài hoa nói cho cùng cũng như một món ăn “tinh thần” cũng cần có ấn tượng nhiều người thích và sống cùng với thời gian không bị “chìm nghĩm” “bặt vô âm tín” sau vài lần xuất hiện.

Những trao đổi nhiều khi ngẫu hứng bất chợt có khi không đầu không cuối tôi chắp nối lại gia công để có đầu có đũa hy vọng giúp chút gì chăng cho những người muốn tìm hiểu bếp núc của nghiệp văn chương?..

 

Đà Lạt – Tây Ninh tháng 4/ 2011.

 

T. H. V.

 

More...

thơ ca Tây Ninh... (Kỳ cuối)

By


 

* Những mặt mạnh yếu của Thơ ca Tây Ninh từ sau 1975:

+ Thơ ca Tây Ninh từ sau 1975 đến nay cơ bản đã ghi danh mình trên Thi đàn trong cả nước. Một số tác giả đã hòa nhập chung vào dòng chảy thi ca của cả nước được bạn đọc yêu mến.

+ Nhiều tác giả thơ của Tây Ninh đã có riêng cho mình những đầu sách khẳng định năng lực của chính bản thân.

+ Thơ ca đã có nhiều giọng điệu đề tài cảm hứng phong phú. Đã có sự cọ sát tìm tòi và thể hiện cao năng lực sánh với mặt bằng chung.

Cái yếu hiện nay của thơ ca Tây Ninh là vẫn chưa khai thác được hết bề dày lịch sử đầu tranh của Tây Ninh qua hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm.

+ Một số ít tác giả còn thiên về lối viết truyền thống chưa chú ý đến câu chữ ngày càng mới lạ của cuộc sống hạn hẹp về đề tài.

+ Lực lượng viết trẻ còn mỏng thiếu sự chăm sóc kế thừa.

+ Chưa có kế hoạch phương pháp quảng bá tác phẩm chủ yếu chỉ trao đổi nội bộ...

* Thay lời kết:

Như trên đã trình bày Tây Ninh là mảnh đất sơn thủy hữu tình nhưng khí hậu khô khan khắc nghiệt. Con người Tây Ninh hiền hậu chất phác song kiên cường trong đánh giặc giữ nước kiên trinh bất khuất. Tây Ninh lại là tỉnh giáp biên giới với Campuchia là cửa ngõ vào TP.HCM ( Giáp với Củ Chi). Một tỉnh lỵ đang từng bước hội nhập và phát triển có bề dày truyền thống đấu tranh anh hùng bất khuất là lớp "trầm tích" để văn học khai thác. Tây Ninh cũng đã có một...Nghĩa trang với những bài thơ được khắc trên bia mộ. Một Đồi Thơ với những câu thơ hay của các thế hệ được khắc sâu vào đá. Nhưng vì sao độ dày và độ sâu của các tác phẩm văn học chưa được phát lộ còn tiềm ẩn đâu đó dưới ngòi bút của anh em Văn nghệ sĩ. Về thơ ca từng có bài thơ "Tha La Xóm đạo" đi vào hàng triệu trái tim người yêu thơ một thời rồi bài thơ "Vàm Cỏ Đông". Thơ Tây Ninh hiện nay còn thiên về cái cũ? Chưa tự bức phá với chính mình? Người làm thơ ở một tỉnh lẻ ít có điều kiện giao lưu cọ sát với các cây bút tên tuổi trong cả nước chăng? Hay vì đang phân vân giữa "vô vàn" nhà thơ với các chủ trương Tân hình thức Hậu hiện đại và cách tân thơ? Làm thơ theo hướng nào: Truyền thống thì e bị chê quá cũ lạc hậu? Còn cách tân hiện đại thì khó chấp nhận bởi những ý tưởng xa lạ câu chữ ngắt ngứ ý tình bí hiểm đến... tắc tị. Thơ thù tạc thơ ca ngợi dường như cũng "Lỗi mốt" vậy khai phá những gì? Viết những gì? Tự thân mỗi người làm thơ phải tự mình xác tín với chính mình chọn cách viết phù hợp với năng lực và nội lực của chính mình chứ không ai khác. Đề tài mới lạ nhưng phải chạm vào trái tim của con người bùng nổ nhưng phải lay động được tâm thức của người yêu thơ. Đòi hỏi gì ở công chúng yêu thơ trước hết phải có thơ hay.

Thơ Tây Ninh trong những năm qua vẫn có thơ hay nhưng chưa thật xuất sắc và cũng không nhiều. Còn những bài sáo rỗng khuôn cứng. Dường như tác giả chưa chịu tìm kiếm đề tài hoặc quá "ngợp" trước ngồn ngộn sự kiện của lịch sử của đời sống mà cuộc đời và thiên nhiên đã ban tặng cho mảnh đất Tây Ninh. Những bóng hình nhàn nhạt trong thơ đích thực không phải bằng những xúc cảm tự đáy lòng. Lộ liễu sự gượng ép trong thơ là cái nghề của ta chưa tới.

Mảnh đất thơ ca phía trước vẫn còn đó sự màu mỡ phì nhiêu. Người làm thơ tự cày bừa gieo trồng và gặt hái. Hãy kỳ vọng cho một mùa bội thu tới...

Rằm tháng Giêng năm Tân Mão 2011.

T. H. V.

More...

thơ ca Tây Ninh... (tiếp theo)

By



 
        VĂN NGHỆ SĨ ĐI THỰC TẾ VÀM CỎ ĐÔNG.

c) Thời kỳ 1945 - 1975:

Thời kỳ này tạm chia thơ ca Tây Ninh trong kháng chiến và trong vùng tạm chiếm ( Chính quyền Sài Gòn).

+ Thơ ca trong kháng chiến: Như hầu hết các văn nghệ sĩ Cách mạng hầu hết đều rút vào bí mật hoặc tập trung vào căn cứ với nhiệm vụ hàng đầu là xây dựng căn cứ cách mạng chống Mỹ cứu nước.

Tiểu ban Văn nghệ thuộc căn cứ TW Cục tập trung các Văn nghệ sĩ cách mạng ở miền Nam và của miền Bắc chi viện những cây bút của Tây Ninh thành danh trên lĩnh vực thơ ca không nhiều nhưng các văn nghệ sĩ Tây Ninh làm thơ có các ông như Bảy Dũng Ba Phát Tư Văn Xuân Quang Xuân Thới...Nhà thơ Hoài Vũ ( quê Long An) có những bài thơ về sông Vàm Cỏ Đông được phổ nhạc và được mọi người ưa thích. Nhiều bài thơ trong lúc này là tuyên truyền cho chủ trương đường lối giải phóng dân tộc của Mặt trận giải phóng miền Nam số còn lại nằm ở dạng bản thảo trong sổ tay của các văn nghệ sĩ kháng chiến.

+ Thơ ca vùng tạm chiếm:

Ở Tây Ninh dưới chế độ Sài Gòn có Đạo Đức Văn Đàn do ngài Cao Tiếp Đạo bút tự Huyền Quang Chánh Đức thành lập vào năm 1950 hoạt động hai năm thì ngưng. Năm 1957 ngài bảo pháp Nguyễn Trung Hậu phục hồi sinh hoạt của Văn Đàn Đạo Đức.

Những người Tây Ninh làm thơ lớp sau như : Hi Đạm Nguyễn Hữu Trí Lâm Tuyền Võ Trung Nghĩa Hàn Y Nguyễn Ngọc Diệp Ngữ pháp Nguyễn Văn Tâm...

Các nhà thơ Phan Yến Linh Từ Trẩm Lệ Yên Giang Nguyễn Khắc Chánh đều có những tác phẩm riêng thơ xuất hiện nhiều trên báo chí ở Sài Gòn. Nhà thơ Thái Phong với thi phẩm thơ "Linh Sơn thắng cảnh" xuất bản năm 1968 Yên Giang Nguyễn Khắc Chánh với tập "Mưa phổi" xuất bản năm 1969 Trường Anh với thi phẩm " Mưa đêm nay" xuất bản năm 1964 được giới văn chương Sài Gòn đánh giá cao về chất lượng nghệ thuật bên cạnh là bút nhóm "Đất Lành" với những tên tuổi: Hưng Huyền Thảo Anh Bảo Tồn Phi Yến Thái Thường Thuần Khiết...cùng các cây viết độc lập khác như Phan Phụng Văn Võ Phụng Kiều Linh Hữu Thái Châu Hoài Trinh Thanh Việt Thanh Thẩm Thệ Hà Vân Đằng Tinh Sắc Lan Chi v.v... Những nhà thơ này hầu hết đã mất số còn lại tuổi đời đã vượt "Cổ lai hy"!

Bên cạnh là những cây viết ở độ tuổi thanh xuân với các Thi văn đoàn bút nhóm "Động đất" "Đất đứng" " Thi văn đoàn Trăng núi Điện" với các cây viết Sa Chi lệ Phương Đình Mai Duyên Căn Hoàng Hương Trang Sa Mạc Linh Vũ Anh Sương Dạ Sầu Vĩnh Thụy Trần Thế Hòa Bình Vũ Miên Thảo Nguyễn Quốc Nam...

Phần lớn người làm thơ trong thời kỳ này ở Tây Ninh thành phần nhân sĩ quan chức đã ít đi phần đông là giáo viên học sinh sinh viên có người là quân nhân công chức của chế độ Sài Gòn. Ngoại trừ những tập thơ đã đứng được trong lòng người yêu thơ như " Mưa phổi" "Mưa đêm nay" ( Có bài Mưa Cẩm Giang được nhạc sĩ Anh Việt Thu phổ nhạc được nhiều người ưa thích). Số còn lại cũng chỉ là những tiếng vang trong một tỉnh lẻ đang tự tìm hướng cho thơ ca.

Thơ ở giai đoạn này vẫn chưa thoát khỏi "tháp ngà" của thi ca phần lớn hướng về tình yêu lứa đôi tình yêu quê hương đất nước thông qua những dằn vặt trăn trở nội tâm của thân phận "nhược tiểu da vàng" không cổ súy tuyên truyền cho chiến tranh. Một số bài dành cho sự ca ngợi cảnh đẹp quê hương nói chung vẫn còn trong vòng suy nghĩ "Văn học vị nghệ thuật". Có tác giả tỉnh ngoài nhưng có bài thơ về Tây Ninh rất hay đó là trường hợp Vũ Anh Khanh với thi phẩm "Tha La xóm đạo". Dòng chảy của thơ ca Tây Ninh vẫn chưa hội nhập với dòng chảy chung của thơ ca trong vùng tạm chiếm. Những bút nhóm thi văn đoàn trong xu thế chung của miền Nam xuất hiện và mọc lên như nấm sau mưa song cũng chỉ qui tụ bạn bè thân hữu những người yêu thích thơ ca chủ yếu sinh hoạt nội bộ không có tầm lan xa đó cũng là một nét mới mẽ của đời sống văn học lúc bấy giờ.

d) Thời kỳ sau 1975 đến nay...:

Từ sau ngày 30/4 năm 1975 Tây Ninh cũng như nhiều đô thị miền Nam khác bước vào cuộc cách mạng tư tưởng và văn hóa rất nhiều sách báo sách văn học thơ ca cùng nhiều ấn phẩm văn hóa khác trong vùng tạm chiếm đều được mang ra tiêu hủy các văn nghệ sĩ trong vùng ngưng hẳn sáng tác có người thay đổi bút hiệu hoặc trở về quê hương bản quán "từ giã" cuộc chơi văn chương. Cuộc sống khó khăn vất vả nên những thú vui ngâm thơ vịnh cảnh cũng dần mai một. Tiếp theo là cuộc chiến tranh biên giới nổ ra không khí văn học chùng xuống nhường chỗ cho những nhiệm vụ quan trọng trước mắt.

Giai đoạn này các văn nghệ sĩ từ trong chiến khu về như các anh Tư Văn Bảy Dũng Bảy Phát Xuân Thới Xuân Quang... Từ báo Thống Nhất chuyển về có nhà văn Vân An bên Đài truyền thanh có nhà thơ Cảnh Trà cùng những cây viết tại chỗ như Phan Phụng Văn Phan Kỹ Sửu Xuân Sắc...mở một quán thơ trên núi Bà Đen mục đích tuyên truyền cho nền văn học mới cách mạng động viên tập hợp các văn nghệ sĩ trong tỉnh tiến tới thành lập Hội VHNT tỉnh đưa văn học đến đời với sống của nhân dân qua các đợt lao động xây dựng thủy lợi Lòng Hồ Dầu Tiếng khai hoang phục hóa ruộng đồng Tây Ninh xây dựng truyền thống đấu tranh anh dũng của nhân dân Tây Ninh...cụ thể qua thơ ca điển hình là tập thơ "Dũng sĩ núi" của nhiều tác giả.

Lúc này những cây bút thơ của Tây Ninh đã bắt đầu được tập hợp lại như Vũ Mậu Tý Phan Kỹ Sửu Hồ Chí Bửu Phương Đình Xuân Đường Trần Viễn Thông Nguyễn Quốc Nam Thu Hương Nguyên Hạ. Một số khác từ tỉnh khác chuyển về có Trần Hoàng Vy ( Thuận Hải chuyển về) Nguyễn Đức Thiện (Thái Nguyên) Nguyễn Quốc Việt ( Nam Định) Nguyễn Văn Tài ( Tiền Giang) Nguyệt Quế ( Bảo Lộc) Hà Trung ( Sở Giáo dục)...Các cây viết văn xuôi như La Ngạc Thụy Dương Mộc Hóa Thiên Huy Thu Trâm Bạch Tuyết Phạm Đình Trúc Thu...cũng góp sức để xây dựng nền Văn học cho tỉnh nhà. Những cây bút mới bắt đầu xuất hiện như Mộng Trung Nhân Hường Liên Minh Phương. Lớp trẻ trưởng thành sau những năm 1980 1990 có Ngô Hồng Phước Phan Thị Liên Giang Đặng Mỹ Duyên Đào Phạm Thùy Trang Lê Thị Phù Sa Tuyết Anh Thiên Kim Sông Hương Trương Thứ Bảy..."Bản đồ" thơ ca của Tây Ninh thời kỳ này chủ yếu cũng chỉ tập trung tại Thị xã Hòa Thành và Gò Dầu. Thơ ca Tây Ninh ban đầu chỉ xuất hiện khiêm tốn trên các trang báo tỉnh sau đó xuất hiện trên các trang báo của Tp. HCM rồi của cả nước song nội lực vẫn chưa mạnh. Các tác phẩm in mới chỉ có của Nguyễn Đức Thiện Trần Hoàng Vy Hồ Chí Bửu...

Bước vào thập niên sau năm 2000 bước đi của thơ ca Tây Ninh đã dần vững chắc sau các giải thưởng thơ có tầm vóc cả nước của Nguyễn Quốc Việt Trần Hoàng Vy. Thơ đã lan tỏa khắp các huyện thị trong tỉnh có thêm những cây viết của Trảng Bàng Dương Minh Châu Châu Thành Tân Châu Tân Biên...Thêm những người trẻ tuổi như Hạ Vi Phong Thanh Nhã Thanh Thi Lương Hoài Sơn... Thơ ca lúc này đã được Hội VHNT tỉnh tập hợp in thành sách. Rất nhiều tác giả xuất bản sách thơ như Cảnh Trà Phan Phụng Văn Nguyễn Đức Thiện Trần Hoàng Vy Vũ Miên Thảo Vũ Anh Sương Khaly Chàm Hồ Chí Bửu Nguyễn Văn Tài Phan Kỷ Sửu Sông Hương Nguyệt Quế Minh Phương Xuân Đường Lê Thị Phù Sa Trương Thứ Bảy...đã gây được tiếng vang và để lại những ấn tượng đẹp trong lòng người yêu thơ. Sinh khí thơ đã được khởi sắc dòng chảy thi ca đã vượt qua khỏi ranh giới "Suối Sâu" của tỉnh để hòa chung vào nền thơ ca phương Nam đầy nắng đầy gió và hào phóng góp phần vào giọng điệu không khí chung của thơ ca cả nước.

Suốt quá trình khai phá và tìm kiếm của thơ ca Tây Ninh công đầu phải kể về nội lực tự thân vận động của bản thân mỗi người làm thơ bên cạnh là sự gợi mở hổ trợ của Hội VHNT tỉnh của trang văn học báo Tây Ninh. Còn phải kể đến sự góp sức của các câu lạc bộ thơ ca như Câu lạc bộ thơ Vàm Cỏ Đông (Gò Dầu) và gần đây là Câu lạc bộ thơ Tân Châu Tân Biên...đã giúp người làm thơ nuôi dưỡng cảm hứng đam mê mà sáng tác.

Chưa có phát hiện rõ ràng về những cây bút thơ học trò trong đội ngũ đông đảo sinh viên học sinh của tỉnh. Song đã có những bạn viết trẻ từ các trường PTTH Lý Thường Kiệt (Hòa Thành) Tân Châu Tân Biên trường Trung học Thực nghiệm...như Bùi Bảo Kỳ và những em khác là tín hiệu vui đáng mừng. ( Còn tiếp)

More...

thơ ca Tây Ninh chặng đường khám phá và tìm kiếm

By


NHÂN NGÀY THƠ VIỆT NAM (15/1 NĂM TÂN MÃO 2011) QTVC ĐĂNG BÀI NGHIÊN CỨU VỀ THƠ CA TÂY

NINH DO TÀI LIỆU ÍT ỎI NÊN BÀI VIẾT CHẮC CHẮN SẼ CÒN NHIỀU THIẾU SÓT RẤT MONG CÁC BẠN

NHÀ THƠ VÀ BẠN YÊU THƠ GÓP Ý ĐỂ BỔ SUNG BÀI VIẾT ĐƯỢC HOÀN CHỈNH HƠN.

sông Vàm Cỏ Đông và núi Bà Đen.


 

THƠ CA TÂY NINH CHẶNG ĐƯỜNG KHAI PHÁ VÀ TÌM KIẾM

* Trần Hoàng Vy.


1. Lịch sử đất Tây Ninh:

Vào giữa thế kỷ 17 Tây Ninh khi ấy còn là đất hoang vu nhiều rừng rậm đầm lầy và thú dữ. Dân bản địa gồm một số người Khmer gọi Tây Ninh là Romdum Ray ( Tức là Chuồng Voi).Chiến tranh Trịnh - Nguyễn kéo dài gần nửa thế kỷ ( 1627- 1672) nhân dân lầm than cực khổ. Các tỉnh Quảng Trị Quảng Ngãi Bình Thuận liên tục bị đói kém mất mùa dân chúng bỏ làng di cư vào Nam đến cửa Cần Giờ khai hoang lập ấp thành Phiên Trấn Dinh tức gia Định và từ đó lần lên hướng Bắc khai thác mở đất từ Trảng Bàng lên Gò Dầu Hạ đến chân núi Bà Đen thành đạo Quang Phong của Phủ Gia Định từ năm 1698 năm 1838 trở thành Phủ Tây Ninh của tỉnh Gia Định.

Theo sách Đại Nam nhất thống chí thì " Phủ Tây Ninh cách tỉnh thành 147 dặm. Đông Tây cách nhau 103 dặm. Nam Bắc cách nhau 95 dặm. Phía đông đến địa giới huyện Bình Long Phủ Tân Bình 66 dặm phía Nam giáp 2 huyện Bình Dương và Cửu An 77 dặm; phía Bắc vượt núi Chiêng ( Bà Đen) giáp đất Miên 18 dặm..."

Năm 1858 thực dân Pháp nổ tiếng súng xâm lược đất nước ta. Tây Ninh bị chiếm (1861) và được sát nhập về Sài gòn mãi cho đến Cách Mạng tháng 8/ 1945 Tây Ninh cùng miền Nam mới trở về tay nhân dân. Nhưng sau đó lại thuộc chính quyền Sài Gòn cho đến ngày 30/4/1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Tây Ninh luôn là một mảnh đất lửa nóng bỏng. Người dân kiên trinh trung dũng kiên cường. Tây Ninh là "Đất Thánh" của một vùng đạo Cao Đài hiền hòa thơ mộng với con sông Vàm Cỏ êm đềm và ngọn núi Bà Đen cao nhất miền Đông Nam bộ đầy huyền thoại. Tây Ninh còn là "Thánh địa" của Cách mạng với nhiều vùng căn cứ nổi tiếng đặc biệt là khu căn cứ TW. Cục là chiến khu "đầu não" của Cách mạng miền Nam.

2. Thơ ca Tây Ninh trong từng giai đoạn phát triển:

Vì là một vùng đất mới khai khẩn trong tiến trình mở cõi của người dân Việt lại là đất "biên cương" phên dậu của Tổ quốc có lẽ con người Tây Ninh phần nhiều dành tâm huyết cho việc thuần hóa đất đai chăm sóc ruộng lúa nương rẫy phần lo chống chọi với thời tiết khắc nghiệt của cái nắng "nung người" và trên hết là nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cương thổ. Người Tây Ninh ít có dịp tổ chức các hoạt động mang tính chất "văn học" nên suốt một thời kỳ dài chưa thấy sự "phát tích" của những cây bút nhà văn nhà thơ có tên tuổi như những mảnh đất khác của đất nước.

Tra cứu thư tịch tìm trong các tài liệu ít ỏi mà chúng tôi có được người Tây Ninh thành đạt trên mặt "văn học" dưới thời phong kiến thực dân Pháp dường như không có. Trong phạm vi của bài nghiên cứu nhỏ này chúng tôi đặc biệt quan tâm đến mảng Thơ ca của vùng đất Tây Ninh xin tạm chia nhỏ các giai đoạn:

a) Thời kỳ khai khẩn thành lập đất Tây Ninh (1650- 1860):

 Đầu và cuối giai đoạn này là cuộc phân tranh Trịnh- Nguyễn sau đó là cuộc chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh dân tình ly tán. Tập trung vào việc mở đất củng cố làng xã gìn giữ biên giới chưa tìm thấy những tác phẩm thơ ca phản ánh cuộc sống của con người Tây Ninh và của con người Tây Ninh sáng tác nổi tiếng trên thi đàn (?).

b) Thời kỳ Pháp thuộc (1861- 1945):

Giai đoạn này thơ ca Tây Ninh vẫn chưa thấy xuất hiện (?) chủ yếu chỉ những bài cảm tác hoặc tiếc thương của các bậc nhân sĩ nhân dân đối với những bậc tiền bối chống lại thực dân Pháp đã hy sinh như ông Hoàng  Pu Cầm Pô Lãnh binh Tòng Lãnh binh Két anh em Huỳnh Công Giản Huỳnh Công Nghệ v.v...

Mùa xuân năm 1901 theo sách "Tây Ninh xưa và nay" của Huỳnh Minh thì làng thơ Tây Ninh tổ chức cuộc hành hương lên núi Điện Bà có mời nữ sĩ Sương Nguyệt Anh (Con gái cụ Đồ Chiểu) tham dự và tại đây nữ sĩ đã hứng bút đề thơ vịnh hoa Bạch mai trên núi : " Non linh đất phước trổ hoa thần/ Riêng chiếm vườn hồng một cảnh xuân/ Tuyết đượm nhành tiên in sắc trắng/ Sương pha bóng nguyệt ánh màu ngân/ Mây lành gió tạnh nương hơi chánh/ Vóc ngọc mình băng bặt khói trần/ sắc nước hương trời nên cảm mến/ Non linh đất phước trổ hoa thần" cùng với hai bài thơ chữ Hán là " Linh sơn nhất thụ mai" và bài " Hựu". Theo nhiều người thì đây có lẽ là những bài thơ đầu tiên viết về hoa bạch mai trên núi Bà.

Từ năm 1915 trở đi cũng theo tác giả Huỳnh Minh nhóm nhà thơ tiền bối ở Tây Ninh thường hội họp để ngâm thơ xướng vịnh có các cụ: Tô Ngọc Đường Huỳnh Văn Tâm hương lễ Tịnh Võ Sâm còn gọi là ông giáo Xôm nổi tiếng trên văn đàn với tác phẩm " Thi phú văn từ" được giới văn học nhiệt liệt tán thưởng.

Nối gót các danh sĩ trên có cụ Quốc Biểu Nguyễn Văn Hiến thành lập văn đàn Quốc Biểu trong năm 1923 gồm các ông Thanh Vân Nguyễn Toại Chí Thanh Phong Nguyễn Văn Trí lâm tuyền Võ Trung Nghĩa tân sắc Võ Văn Tấn Sầm Sơn Sầm Văn Đá Nguyễn Văn Vàng Du Tử Mai Huê cổ lệ Lê văn Thành Nhà Quê Dương Văn Kim Nhất Thiện Huỳnh Long Huỳnh Văn Cầu.

Dòng chảy của thơ ca trong giai đoạn này thường là thơ cảm tác xướng họa gắn liền với thú du sơn ngoạn cảnh người làm thơ hướng về nét đẹp đạo đức của đạo và đời có những bài thơ ca ngợi công đức ý chí chống giặc ngoại xâm của tiền nhân. Thơ gắn liền với thực tế dầu sôi lửa bỏng và cuộc sống cơ cực lầm than của người dân dường như còn ít? Việc quảng bá rộng rãi ra các vùng miền phụ cận và cả nước không có đa phần mang tính chất nội bộ. ( CÒN TIẾP)

More...

đặc trưng thơ viết cho thiếu nhi sau 1986.

By



 

Đặc trưng thơ viết cho thiếu nhi sau 1986
TS. Bùi Thanh Truyền - ThS. Trần Quỳnh Nga
Đại học sư phạm Huế

Là bộ phận quan trọng của văn học thiếu nhi thơ cho tuổi thơ hơn hai mươi năm đổi mới đất nước cũng mang tính lịch sử - xã hội rất rõ. Sự cộng hướng với những thay đổi trong quản lí văn hóa kinh tế tâm lí thị hiếu độc giả... đã mang đến cho mảng sáng tác này những chuyển biến đáng kể trên cả hai mặt nội dung lẫn hình thức nghệ thuật. Nếu chia văn học thiếu nhi từ 1986 đến nay thành ba giai đoạn: 1986-1995 1995-2005 và từ 2005 đến nay thì ở mỗi chặng đường thơ cho các em cũng có những vận động để kiếm tìm những phương thức phản ánh mới trong đó có sự trở trăn đi tìm hình ảnh con người mới - những mẫu phác thảo in đậm dấu ấn của "lắng đọng suy tư và cảm xúc" của khát khao "vượt ra biển lớn" mà vẫn "hết sức thủy chung với phong cách nghệ thuật viết cho thiếu nhi là sáng về nhận thức và trong về nghệ thuật"(1). Trong khuôn khổ bài viết chúng tôi chú trọng nhận diện những thay đổi về mặt thi pháp của thơ thiếu nhi đương đại qua 4 đặc trưng chủ yếu sau đây:

1. Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người

Trong hành trình tìm về với miền ấu thơ tìm lại một ánh mắt "trong veo" khoảnh khắc đất trời và nỗi nhớ cũng "trong veo" cùng với đội ngũ viết văn xuôi các nhà thơ đã xây dựng nên một thế giới nhân vật lung linh sắc màu cuộc sống. Những "con người của hôm nay" "cái hôm nay" sống dậy trong những trang thơ mang theo khát vọng ước mơ và cũng phản chiếu rõ nét một góc nhìn tinh tế về thời kì Đổi mới. Thơ ca cho các em là sự tiếp nối những quan niệm nghệ thuật sâu sắc của giai đoạn trước theo một phương thức phản ánh sáng tạo trong cái nhìn ấm áp nhân hậu và đầy tinh thần trách nhiệm về một thế hệ trẻ thơ của thời đại mới.

Thơ mang dáng vóc của những nét chạm khắc tinh tế những ấn tượng sâu sắc về hình tượng nhân vật thiếu nhi - những con người mới những mầm non mới. Từ một "thằng Nhóc phố tôi" đến một "em bé bán vé số" từ góc quay cận cảnh nét bối rối của cậu bé trước giờ thi đến nỗi lo sợ vu vơ của cô con gái rằng đọc sách nhiều sẽ... cận thị văn học hướng tới sự cắt nghĩa lí giải cuộc sống trong sự xoay chiều cộng hưởng âm thanh đời thường với mạch nguồn xúc cảm trong trẻo về trẻ thơ.

Không ít nhân vật trữ tình trong thơ gắn với từng mảnh hiện thực cuộc sống lem luốc không tên. Trong Chia chữ  (Trần Hoàng Vy) người viết lặng

lẽ dõi theo số phận một thằng bé bán vé số được người ta nhặt về nhân "một lần cầu thực" và "lớn lên suốt tháng năm cơ cực". Những câu hỏi như vọng về như níu kéo có chút đắng đót pha lẫn niềm thương cảm: "Em bán may mắn cho người - còn may mắn em đâu?" để rồi cứ bám riết dằn níu người ta đến "bạc nửa mái đầu"...

Sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ thời kì này thể hiện rõ ở những trở trăn về thân phận những câu hỏi lớn mà cả một thời đại đang hối hả đi tìm lời giải đáp. Sự xâm nhập của chất văn xuôi mang đến một không khí phảng phất tự sự. Lối "kể" ở những bài thơ này đã tái hiện bức chân dung khá trọn vẹn của những em bé "mẹ cha không áo không lành áo" "nhiều hôm nắng lụi chiều tàn - Rã tay. Mỏi cẳng. Túi hoàn rỗng không". Con người đóng đinh trên phông nền hiện thực ấy cũng đa diện nhiều sắc màu.

Song đi hết mọi nẻo đường thơ người đọc vẫn luôn tìm thấy một thế giới ắp đầy khát vọng. Những ước mơ chưa bao giờ tắt những ngọn lửa yêu thương vẫn hoài nóng ấm níu giữ không gian thơ. Độc giả của thời kì này thường nghĩ đến sự "đối lập" của hai mảng màu cuộc sống được thể hiện qua thế giới nhân vật qua tâm điểm "con người". Đó là sự côi cút lạc lõng của những thân phận hẩm hiu và sự ấm áp hạnh phúc của những em bé sống trong vòng tay yêu thương gia đình. Nhưng có lẽ nên nhìn nhận sự tái hiện này trong trường "đối thoại". Những lát cắt cuộc sống dù ở góc độ nào cũng đều chan chứa yêu thương và chia sẻ gọi dậy một cảm nhận trong trẻo ngọt lành về tuổi thơ về những điều riêng - chung trong số phận và tính cách. Trong yêu thương của bố trong sự vỗ về của mẹ hay lời ru ấm áp của bà trẻ thơ lớn lên với trọn vẹn ước mơ (Với con - Nguyễn Công Dương Chuyện về năm quả cam - Phạm Đình Ân Bà nội bà ngoại - Nguyễn Hoàng Sơn Con đi ba mẹ dắt hai tay - Đặng Hấn ...). Nhưng ở một góc nào đó của thơ của đời những "thằng Nhóc phố tôi" vẫn tràn ngập trong hồn một khát khao thầm vụng: "Có chăng Tiên Bụt trên trời? - Biết không thằng Nhóc phố tôi mơ gì? - Một lần Nhóc kể tôi nghe - Nó mơ Tiên Bụt kêu về... đấm lưng".

Giống như truyện con người trong thơ thiếu nhi 1986 đến nay cũng được phản ánh qua cái nhìn đa chiều trong sự đa dạng các mối quan hệ của nhân vật trữ tình. Con người hiện diện trong tâm cảnh của những bộn bề những cơn sóng cuộc đời xô đẩy lấm láp với áo cơm với nỗi đau tinh thần - hệ quả của một xã hội hiện đại. Đời sống nội tâm của trẻ thơ cũng được khắc họa khám phá bằng những nét vẽ tinh tế. Nhà thơ lắng nghe và đón bắt từng cung bậc tình cảm đọc thấy ở tuổi thơ những giai điệu đẹp của tâm hồn. Có cánh diều bay lên mang theo "nỗi khát khao" của một thời mới lớn nhưng có cánh diều lại chở theo những lời tha thiết những ray rứt khôn nguôi: "Cho em bay

với... diều ơi! / Bố em bỏ mẹ em rồi... còn đâu! / Lớp chín càng chín nỗi đau / Bữa cơm nhai đắng ngọn rau mẹ trồng / Niềm thương nỗi nhớ bềnh bồng / Diều như con mắt mẹ trông mẹ chờ... (Tuổi thơ - cánh diều - Trần Hồng).

Mỗi thời đại sẽ đổ bóng vào thơ những dấu ấn riêng. Thơ thiếu nhi thời kì này cũng phản chiếu những phức hợp của thời đại những vận động và đổi thay để hòa nhập và phát triển. Song "viết cho thiếu nhi là viết cho thế hệ công dân tương lai" và "viết cho thiếu nhi hiện nay không chỉ đòi hỏi người viết vượt qua lũy tre làng ra đến Biển Đông mà còn phải bay vượt ra ngoài sức hút của trái đất để nhìn thấy rõ lỗ thủng tầng ôzôn ở bầu khí quyển và băng đang tan ra ở hai cực. Viết cho thiếu nhi hiện nay lại là nghe thấy tiếng khóc của con giun đang không còn đất để mà đào..."(2). Con người trong thơ chính vì vậy cũng được khám phá và thể nghiệm qua một lăng kính thẩm mĩ một nhãn quan mới trong những triết lí và suy nghiệm giàu tính thời sự thực tiễn.

2. Sự mới mẻ về đề tài

Nếu truyện viết cho thiếu nhi thời Đổi mới chủ yếu thành công ở mảng đề tài sinh hoạt - thế sự - đời tư  thì thơ giai đoạn này ghi dấu ấn qua mảng đề tài loài vật - một lăng kính phản chiếu tâm hồn trẻ thơ hôm nay một cách hữu hiệu.

Thoát ra khỏi trường ảnh hưởng của các bậc tiền bối như Phạm Hổ Võ Quảng Trần Đăng Khoa... thơ thiếu nhi thời kì này tìm những lối đi riêng từ một đề tài khá quen thuộc. Hơn bao giờ hết cuộc sống con người đang đối diện với những cảnh báo về sự suy thoái của môi trường sống những dải rừng bị bào mòn hủy hoại loài vật lên tiếng kêu cứu... Song chính tại thời điểm đó thơ bừng lên sức sống mạnh mẽ với tiếng nói của vạn vật của những người "bạn trong nhà" của muông thú tâm tình thương mến. Những người bạn trong thơ thiếu nhi là những con vật ngộ nghĩnh đáng yêu như chính thế giới tâm hồn của các em hồn nhiên bao dung và gần gũi (Chim đánh thức - Nguyễn Công Kiệt Bác trâu - Phi Tuyết Ba Cái sân chơi biết đi - Hoàng Tá Con vện - Nguyễn Hoàng Sơn Mèo đi câu - Vương Trọng Cào cào giã gạo - Xuân Nùng Xem mèo - Nguyễn Thị Mai ...).

Sâu sắc và thấm đẫm tính nhân văn những trang viết về đề tài loài vật luôn phảng phất bóng dáng trẻ thơ với những suy ghĩ trong trẻo và thánh thiện với cái nhìn bao dung và nhân hậu trước cuộc đời. Nhìn chú chim khướu nhảy nhót trong lồng chật hẹp phải sống xa bố mẹ em bé thấy thương nó vô cùng (Con chim khướu  - Nguyễn Ngọc Hưng). Đám rước sâu (Nguyễn Ngọc Sinh) lại mang đến bài học về tinh thần đoàn kết. Nhái bén ra biển (Nguyễn Châu) là khám phá không mấy bất ngờ với người lớn nhưng là sự vỡ òa trong nhận thức của trẻ thơ lần đầu đến với chân trời mới:

Nhái Bén vừa tới biển xa

Tợp một ngụm nước vội phà ra ngay:

- Trời ơi! Thật quá là gay

Ai mà đổ muối xuống đây mất rồi?

Ở một đề tài "cũ mèm" nhưng đánh thức được những cảm nhận mới những hình dung mới về loài vật các nhà thơ đã mang đến một sự đa diện trong thế giới nhân vật thơ thiếu nhi. Đằng sau đó là sợi dây kết nối những tâm hồn đồng điệu những tấm lòng trẻ thơ yêu loài vật khát khao khám phá thế giới xung quanh mình. Đôi khi bên cạnh những phác thảo về loài vật và ngay trong dáng vóc của các nhân vật - loài vật ta bắt gặp chính hình ảnh của các em (Chó mèo kết bạn - Trần Ngọc Tảo Con lật đật - Đặng Hấn Con sâu đo đi tết - Trần Mạnh Hảo Cuốc con học bài - Nguyễn Văn Chương Mèo con - Lưu Thị Bạch Liễu Con chuồn chuồn ớt - Xuân Nùng ...). Hơn bất kì không gian nào với những người bạn nhỏ đáng yêu xung quanh mình như chú cún vịt con gà mái mơ... trẻ sống thật với những xúc cảm hồn nhiên biết yêu thương và chia sẻ.

Cùng với những sáng tác về thế giới loài vật một mảng đề tài thu hút nhiều sự quan tâm của đội ngũ làm thơ cho các em lúc này và cũng có được những thành tựu đáng ghi nhận: Đề tài đạo đức với những định hướng giáo dục giàu tính thẩm mĩ.

Theo đánh giá của nhà thơ Hoài Khánh "tư duy của người làm thơ hôm nay chuyên nghiệp hơn vì có học vấn hơn nên cách viết khôn ngoan hơn. Đề tài cũng mở mang hơn nếu trước đây ta chỉ có thơ gieo vần hay nội dung thường là các bài học luân lí... Thơ bên cạnh tiếng nói tình cảm còn là vẻ đẹp được khúc chiết trong một tứ nhất định. Các bài học trước đây còn nặng về tính giáo dục áp đặt thì nay đã ẩn đi tính tư tưởng rõ nét hơn vượt qua tính giáo dục". Người được gọi là "ông hộ pháp" của thơ thiếu nhi - nhà thơ Cao Xuân Sơn - thì tự bạch: "Mấy chục năm "dan díu" với thơ tôi thấy mỗi khi viết xong một bài thơ đắc ý cho thiếu nhi là những phút giây mình gần với... thần thánh nhất". Cái tứ thơ trong bài Mở sách ra là thấy in trong tập mới nhất -  Mèo khóc chuột cười - được gợi ý từ một nỗi lo sợ vu vơ của con gái tác giả. Trong bài này người viết tìm cách "dụ dỗ" cháu bé đọc sách bằng cách kích thích trí tò mò vốn có của trẻ con: Đôi khi kẻ độc ác - Lại không là cọp beo - Cũng đôi khi đói nghèo - Chưa hẳn người tốt bụng...

Có lẽ vì thơ khởi đi từ những điều bình dị như thế nên những lí lẽ trong thơ cũng được gieo trên mảnh đất tâm hồn trẻ thơ một cách tự nhiên. Từ triết lí hiện đại không tiếp tục đồng nhất với mô típ cổ tích xa xưa kẻ độc ác - cọp beo người đói nghèo - tốt bụng nhà thơ đi đến kết thúc bằng cách "chữa" lại quan niệm sai lầm "đọc sách nhiều thì cận thị" của cô con gái nhỏ:

Ta "đi" khắp thế gian

             Chỉ bằng hai con mắt

             Sẽ "cận thị" suốt đời

             Những ai không đọc sách!

Trong sự xâm thực ồ ạt của vô tuyến truyền hình internet và các trò chơi điện tử của các hình thức truyền thông đa phương tiện phát triển mạnh mẽ và rộng khắp hơn lúc nào hết văn học cho thiếu nhi lúc này càng phải có sứ mệnh chuyển tải những thông điệp về giáo dục về lòng yêu thương con người và cả những định hướng lĩnh hội giá trị văn hóa của xã hội. Đề tài đạo đức vốn sống bền bỉ trong thơ nay càng được khai thác nhiều hơn đi vào chiều sâu hơn; ở đó có những bài học vỡ lòng về giao tiếp (Lời chào - Nguyễn Tiến Bình) sự chia sẻ và tri ân (Với con về cô mẫu giáo - Đặng Nguyệt Anh) về tinh thần thái độ mỗi khi mắc lỗi lầm (Xin lỗi - Nguyễn Thị Chung) ...

Đất đi chơi biển (Phạm Đình Ân) là tập thơ có nhiều sáng tạo trong việc khẳng định chức năng giáo dục của thơ cho trẻ em hôm nay: Viết cho các em để giáo dục lòng yêu đất yêu quê bằng một cái nhìn ngộ nghĩnh trẻ thơ là chuyến "du lịch" kì thú của một... nắm đất. Bài học về tình cảm gia đình tình yêu quê hương đất nước được người viết gửi đến các em một cách tự nhiên sinh động không khô cứng áp đặt vì thế dễ nhận được sự đồng cảm chấp nhận ở trẻ làm giàu tâm hồn và nhân cách trẻ thơ. Đây cũng là nhân tố quan trọng tạo ra những tứ thơ hình ảnh thơ rất độc đáo bắt mắt trong thơ Lê Hồng Thiện: Bé khép cửa lại/ Nhốt nắng trong nhà/ Nắng lại trốn ra/ Dịu dàng nắng nói/ Ở trong bóng tối/ Tôi chẳng ưa đâu (Bé và nắng). Không ngây thơ hồn nhiên một cách giả dối sống sượng người viết đã nhìn cuộc sống bằng chính đôi mắt trẻ thơ để nói tiếng nói của chính tâm hồn và trí tuệ các em. Bài học đạo đức trong thơ đã có sự kết hợp giữa sự thơ ngây hồn nhiên với những ý tứ sâu sắc của bài học làm người. Có cảm giác mối quan hệ giữa văn học thiếu nhi với trẻ em hôm nay vừa là thầy vừa là bạn. Là bạn để biết được sở thích tâm lí nhận thức và bao mặt đời thường của các em để từ đó nói lên được những điều mà các em quan tâm trăn trở. Là thầy để giúp đỡ hướng đạo cho các em đi tới. Theo đó mỗi nhà văn viết cho lứa tuổi thơ đồng thời là một nhà sư phạm.

Với đề tài đạo đức có cảm giác người viết lặng lẽ như một người giữ lửa cho nhiều thế hệ trẻ thơ. Ngọn lửa ấy vẫn thắp lên những khát vọng những kinh nghiệm sống một cách giản dị tự nhiên. Thơ hướng các em đến những bài học giao tiếp mà cao hơn là kĩ năng giao tiếp - một kĩ năng rất quan trọng cho trẻ trong thời đại mới. Bên cạnh đó thơ còn bắc cầu cho trẻ đến với ánh sáng của niềm tin của những tình cảm đẹp những nét trong trẻo hồn nhiên trong tâm hồn và đến với thế giới xung quanh ngập tràn hương sắc. Các tác giả chú ý

quan tâm tới trẻ em trong nhiều mối quan hệ nhiều môi trường và nhiều bình diện thể hiện những vấn đề nóng bỏng cấp thiết mang tính thời sự cập nhật của đời sống hôm nay. Nhà thơ viết cho trẻ em đã bám sát hiện thực không chỉ ở đề tài mà còn ở cả chiều sâu khai thác. Điều đó cho thấy thơ cho trẻ em đã hòa nhập được với không khí chung của văn học giai đoạn mới. Cái xấu cái ác trong thơ như là chút đắng chát để nỗi ngọt bùi được cảm nhận một cách lắng đọng hơn. Tác phẩm đã giúp trẻ hiểu rằng cuộc đời là người thầy lớn nhất dạy con người trưởng thành nhưng chính tình yêu thương mới là điều quan trọng nhất giúp tâm hồn trẻ thơ có được sự phát triển bền vững đúng hướng.

3. Ngôn từ và nhịp điệu thơ - sự cộng hưởng âm thanh cuộc sống

Như một sự cộng hưởng với những âm thanh cuộc sống đa dạng từ địa hạt văn xuôi ngôn ngữ thơ cho thiếu nhi hôm nay cũng có những sắc diện những biến điệu dư vị riêng. Sự trở về sáng tạo và độc đáo của thể thơ ngắn tiết tấu nhịp điệu nhẹ nhàng đã mang lại cho thơ thiếu nhi từ 1986 đến nay một sự mới mẻ hấp dẫn riêng trong khi vẫn không ngừng bám sát những sinh hoạt gần gũi của trẻ thơ (Lời chào đi trước Bố cũng từng đi thi - Nguyễn Hoàng Sơn Lời cô Trống trường Chuyện bà Đỏ chon chót... - Đặng Hấn Lớp ba - Trần Đắc Trung Trâu kềnh - Mai Văn Hai Chuồn chuồn kim - Xuân Hoài Con cóc Bé nhìn biển - Trần Mạnh Hảo ...).

Chọn những câu thơ 3 4 chữ để kiến tạo bài thơ để chuyển tải những gam màu cuộc sống là điểm dễ nhận thấy trong thơ thiếu nhi đương đại. Trong tuyển tập Thơ truyện dành cho bé tập hợp những tác phẩm tham gia cuộc thi sáng tác thơ truyện cho lứa tuổi Mầm non (do Vụ Giáo dục Mầm non và Nhà xuất bản Giáo dục phối hợp tổ chức)(3) số lượng các tác phẩm thơ 2 3 chữ chiếm 11 8%; thơ 4 chữ chiếm 54 8%; thơ 5 chữ chiếm 15 1%. Những tác phẩm còn lại là thơ 6 chữ và lục bát. Kinh nghiệm cho thấy thơ dành cho lứa tuổi càng bé thì càng phải ít về số tiếng trong câu và số câu trong bài. Cuộc sống hiện nay nhanh và gấp gáp nên sáng tác cho các em cũng cần nhanh gọn ngắn. Ngôn ngữ văn phong cũng phải hiện đại như chính cuộc sống của các em.

Như một cuộc chạy tiếp sức sự trở lại của thể thơ 3 4 hay 5 chữ vẫn tiếp tục tạo nên một sức sống trong thơ thiếu nhi đương đại bởi sự tươi mới của cuộc đời của thời đại và bởi cái đẹp trong tâm hồn trẻ thơ: Chú mèo hoang - Đi lang thang - Kêu thảm thiết - Đêm gió rét - Không ai thương - Đêm mưa rơi - Trời buốt giá - Bé thương quá - Gọi: "Meo meo"... (Mèo hoang - Cái Thị Nhuận).

Thơ tự do được xem như một sự cách tân đột phá của thơ ca những năm ba mươi của thế kỉ trước nhưng trong địa hạt thơ thiếu nhi thể loại này không

nhiều. Mặc dù vậy những tác phẩm kiểu này cũng đã tạo được một sự ngân hưởng kì diệu mang đến nhịp điệu mới mẻ và tươi sáng (Nghệ sĩ Tiếng gọi vịt - Nguyễn Văn Chương Cuộc hành quân của thời gian - Phi Tuyết Ba Bé và trăng Chuyện gà chuyện trứng - Đặng Hấn Cưỡi ngựa - Dương Thuấn...). Với sự liên tưởng kì tài của thơ tác giả đã dìu các em "về tận xứ tuổi thơ" - xứ thần tiên giàu xúc cảm: "Răng khểnh ơi - Cắn chắt hạt mưa nào?" (Tí tách mưa rơi - Nguyễn Ngọc Quế).

Vẫn thứ chất liệu ngôn từ giản dị sáng và trong vẫn nhịp điệu của trò chơi đánh chuyền đánh chắt hay "thả đỉa ba ba" "ù à ù ập" nhưng thơ thiếu nhi thời kì này chuyển tải những thông điệp sâu sắc của thời đại mới của bước chuyển giao thế kỉ. Nhiều vấn đề xã hội được đặt ra trong cuộc sống đi vào thơ qua cách nhìn cách cảm lấy điểm xuất phát là lăng kính tuổi thơ bỗng trở nên nhẹ nhàng thân thương (Tết nhà có khách - Phạm Đình Ân Cây đa quê - Ngô Viết Dinh Sài Gòn và bé - Đặng Hấn Thành phố mười mùa hoa - Lệ Bình ...).

Một điều dễ thấy trong ngôn ngữ thơ thiếu nhi hôm nay là sự học tập và làm mới đồng dao. Về điểm này Hoài Khánh đã không quá khi cho rằng: "Thơ mang hình thức giống đồng dao càng tốt". Nhịp thơ đều câu thơ ba bốn chữ với cấu trúc lặp lại xoay vòng... là những đặc trưng của thơ đương đại in đậm dấu ấn đồng dao. Thậm chí ở nhiều bài tác giả đã không hề giấu diếm ý định "theo gót dân gian" ngay từ tên tác phẩm: "Đồng dao" của Lê Thị Năm "Đồng dao" của Đặng Huy Giang... Trẻ cùng với thơ học đếm cùng với thơ chơi trò ú tim cùng với thơ làm việc giúp bố mẹ. Và cũng như các bài đồng dao thơ mang dấu ấn đồng dao chứa đựng trong nó những tư duy ngộ nghĩnh và trí tuệ trẻ thơ. Chất liệu đồng dao được Đặng Huy Giang sử dụng một cách khéo léo mang lại hiệu quả thẩm mĩ và ấn tượng đặc biệt đối với trẻ: "Dung dăng dung dẻ / Dắt trẻ đi chơi / Mở cửa tìm người / Thuở nao thuở nảo / Hỏi thăm cây gáo / Cây gáo rắc hoa / Hỏi thăm tre ngà / Tre ngà đỏ lá / Tháng ba mưa gió / Trận rét nàng Bân...". Kết cấu "vòng tròn" tạo cảm tưởng mọi vật trên thế giới này đều có quan hệ chặt chẽ nối kết nhau vòng quanh nét cười hồn nhiên của trẻ. Bé học toán của Thu Huyền được dệt nên từ những vần điệu nhịp nhàng để trẻ vừa có thể nô đùa cùng những con số. Với trò chơi "kết vòng" trẻ lại xúm xít đùa vui trong nhịp điệu rộn ràng của Hay thật hay (Lê Bính). Ở Con chim chích chòe (Phan Trung Hiếu) người đọc có dịp thả hồn say sưa trong một khu vườn tuổi thơ đáng yêu ngộ nghĩnh v.v... Mỗi bài thơ như một trò đồng  dao "để các em chơi  với  nó mà  không chán không sợ nó" (Trần Quốc Toàn).

Dù chưa nhiều như trong văn xuôi nhưng tính giả tưởng cũng mang lại những dư vị riêng của các sáng tác thơ cho thiếu nhi thời kì này. Đây là một

đặc trưng tuy không xa lạ nhưng luôn mang lại những cảm nhận mới mẻ. Nhà thơ Trương Hữu Lợi từng trả lời câu hỏi về quan niệm sáng tác văn thơ cho các em: "Phải bay bổng không nệ thực có tính ước lệ cao dí dỏm và có trí tuệ". Tính giả tưởng không ít lần được các nhà phê bình đặt ra như là một tiêu chí đánh giá thơ thiếu nhi đương đại. Tại diễn đàn "Sáng tác văn học thiếu nhi" ý tưởng này một lần nữa được khẳng định: "Văn học giả tưởng nuôi dưỡng trí tưởng tượng phong phú của các em mở ra một chân trời mới hấp dẫn rất cần được chú ý". Mặc dù vậy tính kì ảo trong thơ thời kì này không phải là yếu tố chủ đạo. Thơ nghiêng về xu hướng mô tả những biến điệu tinh tế trong đời thường những góc đời những mảnh hiện thực cuộc sống lấm láp và bụi bặm... Thảng hoặc người đọc mới bắt gặp những vần điệu mang bóng dáng truyện cổ tích ngày xửa ngày xưa:

Mèo con sắm tết chợ xa

Đêm nằm thấp thỏm canh ba dậy rồi

Mèo đi sương lộp độp rơi

Nghêu ngao hát gọi mặt trời thức mau

Mèo mua tặng mẹ vải màu

Mèo mua một rổ trầu cau tặng bà...

(Niềm vui của mèo con - Lê Mạnh Tiến)

Hơi thở cuộc sống đương đại cũng đã làm biến đổi hình tượng ngôn ngữ thơ thiếu nhi hôm nay. Trong Làng em có điện Lê Bính mang đến một lớp từ ngữ lấp láy rúng động như cái nhịp đập rộn rã của cuộc sống mới của làng quê thay da đổi thịt khi có ánh sáng điện tràn về. Chú cún con thì "loăng quăng" đuôi "ngoe nguẩy" múa đàn gà mới nở trông như nắm bông "xinh xinh" cứ "lích tích" "động đà động đậy" quạt rủ nhau "xoay tít" còn chú chích chòe thì dậy sớm ngẩng cổ lên trời "dập dình" cái đuôi... Có thể nói người làm thơ cho thiếu nhi rất say sưa với lớp từ tượng hình tượng thanh và phép so sánh nhân hóa. Từ láy là lớp từ ngữ tạo nên điểm nhấn và sức cuốn hút mạnh mẽ cho thơ. Từ Phạm Đình Ân với Đất đi chơi biển Nguyễn Văn Chương với Hoa cúc quỳ đến Nguyễn Đức Hậu trong Làng em buổi sáng Mèo con chơi bóng rổ Cao Thúy Hưng trong Bé tập đi xe đạp... đều thấy sự xuất hiện với mật độ khá dày các từ láy tạo dáng cho thơ và làm nên một nét đặc trưng của ngôn từ thi ca cho thiếu nhi hôm nay. Trẻ rất hứng thú và dễ bị hấp dẫn bởi màu sắc hình tượng và cũng đặc biệt thích tìm tòi khám phá. Văn học viết cho thiếu nhi đã lấp đầy những "cơn khát huyền diệu" đó bằng những từ ngữ giàu hình ảnh màu sắc lấp láy tươi vui...

Ngôn ngữ thơ luôn căng tràn sức sống. Sau lớp vỏ ngôn từ là những hình

tượng những thông điệp nghệ thuật lạ lẫm độc đáo khẳng định sự sáng tạo nghiêm túc của những người - phu - chữ: "Tim lồng như chợ vỡ - Ve vào tai thổi kèn" (Bố cũng đi thi - Nguyễn Hoàng Sơn) "Sẽ "cận thị" suốt đời - Những ai không đọc sách!" (Mở mắt ra là thấy - Cao Xuân Sơn) "Trăng non đầu tháng - Chiếc thuyền câu bơi - Bố đi quăng lưới - Kéo đàn sao trôi" (Trăng non đầu tháng - Minh Nguyệt) "Thương mẹ con bận rộn - Chưa kịp giật đường kim - Bố vá màn lúng túng - Khâu luồn vào bóng đêm" (Với con - Nguyễn Công Dương)... Lời thơ trong trẻo. Ý thơ cũng tràn ngập yêu thương. Và ngôn từ nghệ thuật với "sứ mệnh" của nó đã chuyển tải những giai điệu đẹp từ cuộc sống vào tác phẩm.

Giọng điệu trong ngôn ngữ thơ hôm nay cũng có sự khu biệt đáng kể so với trước 1986. Ngoài chất giọng hồn nhiên trong trẻo rất trẻ thơ vẫn thường thấy trong giai đoạn trước nét mới của thơ cho thiếu nhi hôm nay là sự gia tăng của giọng kể chuyện - tâm tình. Điều này làm cho thơ bớt tính chất "véo von" "ca hát" mà gân guốc hơn áp sát cuộc sống hơn. Đây là một trong những lí do kéo thơ lại gần với văn xuôi thể hiện rất rõ nhãn quan đời thường thời sự của văn học thiếu nhi thời Đổi mới.

Việc đi vào mảng đề tài về những số phận hẩm hiu những mảnh vỡ không hàn gắn được mà hậu quả là những đứa bé lang thang như những con mèo hoang đói lạnh bị nắng mưa bão gió làm tê buốt cả thể xác lẫn tâm hồn đã làm xuất hiện những tác phẩm in đậm dấu ấn tự sự. Không xâm lấn về thể loại từ câu chữ bởi thơ thiếu nhi thường gọn ghẽ cô đọng chất tự sự bồi đắp cho thơ những khoảng trống về chiều dài hành trình số phận con người. Thơ bắt đầu pha lối kể nhưng là lối kể rất "thơ" rất đời. Chia chữ là một ví dụ điển hình cho sự đổi mới này của thơ:

Lần theo em bé bán vé số

Tôi đi tìm số may đời em

Hẻm chéo chồng nhau số đè lên số

Cái vỏ hộp cuối cùng sao gọi đấy nhà em?

... Tôi nát lòng nước mắt trào rơi

Em nụ búp sao đời nhiều giông bão...

... Lớp học ban đêm tôi là thầy giáo

Chia chữ cho người không chia được áo cơm...

Chất tự sự thể hiện rõ trong cách kể giọng điệu kể. Nó cho phép nhà văn có thể "thơ hóa" những gì gần gụi quen thuộc với trẻ em để đưa họ vào cuộc hành trình khám phá thú vị những bài học cuộc đời bình dị khuất sau con chữ. Chỉ với một buổi chiều "cháu dắt tay ông dạo chơi" cũng làm nên một bài học

nhẹ nhàng về "luật giao thông" trong thơ Nguyễn Phan Khuê nét phác thảo về thằng nhóc lang thang không cửa nhà cũng mang đến một không khí "tiểu thuyết" trong trang viết của Cao Xuân Sơn hay với Hổ con trong vườn thú Nguyễn Văn Chương đã tô đậm tâm trạng của nhân vật trữ tình "hổ con" trong cái nhìn về tự do và nỗi nhớ ngàn già...

4. Kết cấu đối thoại và con đường khám phá thế giới trẻ thơ

Là những tác phẩm thuộc thể loại trữ tình thơ cho các em ít có sự chuyển biến mạnh mẽ về mặt kết cấu như truyện. Mặc dù vậy quan sát những sáng tác thơ cho thiếu nhi những năm qua có thể thấy hai đặc điểm nổi bật về kĩ thuật tổ chức tác phẩm như là sự tiếp nối và bổ sung thành tựu thơ giai đoạn trước: Sự trùng điệp và tính chất đối thoại trong kết cấu của văn bản thơ.

Kết cấu trùng điệp được sử dụng khá nhiều như chính một đặc điểm tâm lí của trẻ: thích nghe mãi một câu chuyện mà không biết chán đố nhau một câu dù ai cũng biết tỏng đáp án là gì... Sự lặp lại điệp trùng trong việc tổ chức từ và cụm từ giúp trẻ khắc sâu những ấn tượng thẩm mĩ về nhân vật trữ tình về lời thơ ý thơ... Trong thơ thiếu nhi hôm nay ta bắt gặp rất nhiều những phương thức vận hành ngôn từ như thế (Cùng đi Cầu vồng - Phạm Thanh Quang Cuộc hành quân của thời gian - Phi Tuyết Ba Chim gõ kiến - Nguyễn Như Mai ...).

Đối với trẻ hình thức đối thoại hình thành sớm hơn độc thoại. Trong thơ thiếu nhi thời kì trước 1986 ta bắt gặp một Xuân Quỳnh dịu dàng đằm thắm trong từng lời ru từng lời kể từng nhịp điệu tâm tình một Trần Đăng Khoa với tiếng gọi của trẻ thơ đáng yêu một Phạm Hổ với lối đối - đáp nũng nịu và ngộ nghĩnh... Từ 1986 đến nay thơ vẫn tiếp tục cuộc hành trình với những câu chuyện rất thú vị "mẹ kể con nghe" về cuộc sống với những câu hỏi líu lo luôn chứa đựng những điều bất ngờ và không bao giờ vơi cạn của trẻ thơ. Trong hai tuyển tập Tắc kè hoaĐất đi chơi biển của Phạm Đình Ân có 13 bài sử dụng kết cấu đối đáp. Những câu chuyện như bung nở mở ra một thế giới thần tiên trước mắt bé thơ với bao điều cần khám phá và lí giải (Qủa chín và thơm Tết nhà có khách Người đi đường Nhờ chú Có kẻ lách vào vườn ...). Lắng tai nghe âm thanh rộn rã của vạn vật cũng là dịp để nhà thơ khắc chạm trong tác phẩm bức tranh sinh động về cuộc sống của trẻ thơ (Trung thu của trống Choai - Nguyễn Văn Chương). Với Cột mốc (Nguyễn Châu) kiểu kết cấu này lại nêu bật sự trân trọng những người lặng thầm làm việc. Ở Niềm vui (Đặng Hấn) sự đối đáp giữa các sự vật trước những câu hỏi ngây thơ của bé là cơ sở để người viết nêu bật triết lí sống rất cần cho trẻ thơ: Hạnh phúc của mỗi người chỉ có được nhờ ở sự lao động chân chính ở những thành công bằng chính nỗ lực của mình.

Trẻ rất thích được vỗ về được trò chuyện (và thậm chí được nghe chính tiếng nói của riêng mình). Luôn luôn gặp trong thế giới của bé những khát khao giãi bày tìm tòi khám phá những chân trời mới lạ. Bé "hỏi mẹ" xem "ai quạt thành gió - Thổi mây ngang trời?" muốn tìm hiểu bầu trời "ai nhuộm" mà xanh đến thế... Với bé bầu trời với muôn ngàn vì sao lấp lánh với ông trăng rằm và chú Cuội... là cả một khoảng không bao la kì bí: "Mẹ ơi có phải - Cuội buồn lắm không - Nên chú phi công - Bay lên thăm Cuội?" (Hỏi mẹ - Nguyễn Xuân Bồi). Kết cấu đối - đáp hình thành xuất phát từ chính những câu hỏi hồn nhiên trong trẻo ấy. Và bởi viết cho thiếu nhi cũng là viết cho chính tuổi thơ của mình viết cho những đứa con yêu thương cho những đứa trẻ thánh thiện xung quanh mình... nên các nhà thơ đã sử dụng kết cấu này như một gợi dẫn để đi dần vào thế giới tâm hồn trẻ thơ. Mỗi tác phẩm hơn thế còn là tấm vé về lại tuổi ấu thơ trên con tàu mang tên nỗi nhớ. Kí ức và tình yêu quá khứ và những câu hỏi ngây thơ khát vọng sống và sự sẻ chia của tấm lòng người sáng tạo đã đẩy nhà thơ vào cuộc hành trình đi tìm những câu trả lời để từ đó mở ra cho con trẻ những chân trời mới lạ. Thi sĩ dành một quãng thơ của mình để ngân nga khúc nhạc yêu thương và trong đó người đọc bắt gặp những cuộc trò chuyện tâm tình giữa người hỏi - người đang "sở hữu" một tuổi thơ thánh thiện và người trả lời - người đang nhìn ngày hôm qua bằng đôi mắt rất đỗi nhớ thương và đang dang rộng vòng tay ấp ủ những bé thơ. Bỏ qua cách cắt nghĩa mang những "triết lí hồn nhiên của sự sống thứ triết lí mà ở mỗi lứa tuổi có thể hấp thụ một cách riêng" những câu hỏi và trả lời bình dị như được lẩy ra từ những cung bậc dịu dàng trong cuộc đời này là lấp lánh sắc màu của sự đồng điệu hai thế giới: thế giới trẻ thơ - thế giới của những con người đã bước qua thời vụng dại.

*

Nếu trong văn học 30 năm chiến tranh thơ thiếu nhi đã lên đến đỉnh gắn liền với tên tuổi của thần đồng thơ Trần Đăng Khoa những năm gần đây do nhiều lí do cả chủ quan lẫn khách quan mảng sáng tác này chững lại nhường chỗ cho sự lên ngôi của các thể loại văn xuôi.

Trong nhiều sản phẩm văn học cho trẻ em hôm nay thơ xem ra có lẽ là bộ phận bị tác động theo chiều hướng tiêu cực của cơ chế thị trường nhiều hơn cả. Đây là hệ quả mặt trái của thời kinh tế thị trường: Thơ in cho các em không bán được các nhà thơ viết cho các em không còn khí thế như giai đoạn trước ít làm thơ hơn. Thế hệ trẻ bây giờ quá bận học lại bị cuốn hút vào nhiều hoạt động khác trong một xã hội đang phát triển mạnh mẽ với nhịp sống ồn ã và gấp gáp. Nhưng không phải vì thế mà thiếu vắng những tác giả tập thơ tạo được ấn tượng. Từ những năm 90 trở lại đây vẫn có

những tác giả tập thơ tạo được phong cách riêng trong sân chơi kém phần sôi động này như Cưỡi ngựa đi săn của Dương Thuấn (Giải thưởng Văn học thiếu nhi 1990) May áo cho mèo của Phùng Ngọc Hùng (1991) Bờ ve ran của Mai Văn Hai (Giải thưởng Văn học thiếu nhi 1992) Dắt mùa thu vào phố của Nguyễn Hoàng Sơn (Giải thưởng Văn học thiếu nhi 1993) Cái sân chơi biết đi của Hoàng Tá (Giải thưởng văn học thiếu nhi 1994) Trứng treo trứng nằm của Lê Hồng Thiện (1994) Tắc kè hoa (1996) và Đất đi chơi biển (2007) của Phạm Đình Ân Tí tách mưa rơi (2009) của Nguyễn Ngọc Quế Bữa tiệc của loài vật (2009) của Trần Quốc Toàn v.v...

Thơ cho thiếu nhi hôm nay đã có những chuyển biến đáng kể cả ở phương diện tiếp cận cuộc sống mới sôi động từ nhiều hướng quan tâm một cách toàn diện mọi mặt của cuộc sống trẻ em đến một quan niệm mới mẻ về đối tượng tiếp nhận chủ yếu của bộ phận văn học này về các phương thức biểu đạt của thơ: Ngắn gọn về dung lượng gần gũi với đời sống trẻ em mang nhiều âm hưởng của đồng dao sử dụng nhiều chi tiết kì ảo hoang đường tăng cường tính chất đối thoại giảm rõ rệt sự phán xét và dạy bảo khô cứng... Tất cả những phương diện đó là nỗ lực lớn của đội ngũ tác giả trên con đường đưa thơ đến gần hơn với tuổi thơ. Bên cạnh những đặc đi

More...

PHẢN HỒI " TỰ KHÚC +" (TT)

By



 

SEN LẠC MÙA TRONG NẮNG THU PHAI

* Lê Ngọc Trác

"Này quà của vợ và con

Dòng tin bằng hữu

 núi non sông hồ

Khói thơm với sáp nến khô

Tôi còn giữ lửa

ngây ngô tuổi mình

Nổi nênh từ lúc

đăng trình

Khi giông bão

lúc tội tình trăng sao

Văn chương mộng ước Ca dao

Sân Trình cửa Khổng

xanh xao nghiệp thầy

Ngao du theo hạt bụi gầy

Vịn vào nắng

vịn vào mây đỡ buồn!

Dựa lưng trăng nhấp rượu suông

Cười như thơ ấu

ở truồng tắm mưa?

Biết yêu em

tự thuở xưa

Thơ tình ghép chữ

mãi chưa thành vần

Liều như bại tướng

vong thân

Mai sau chạnh nhớ

tình nhân nhân tình...

Ngoài tri thiên mệnh

lung linh

Chạm vào hoa giáp

thấy mình thấy ta

Đôi khi cảm một sác na

Sợi dây hư ảo

ta bà âm dương

Đêm chong nến

khói và hương

Giấy thơm người trải

văn chương ghẹo đời

Ừ ta đang tuổi

hai mươi

Thơ gieo một chữ

rượu mời người dâng

Năm mươi tám tuổi

dần dần...

Trăng hoa mây gió

bạn thân cùng trời

Cứ rong ruổi hết cuộc chơi

Tà tà chậm chậm...

hết hơi. Rồi về!..."

Mỗi lần đọc bài thơ trên của Trần Hoàng Vy là mỗi lần trong tôi trào dâng xúc động. Đây là bài thơ Trần Hoàng Vy viết vào dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 58 của anh. Nội dung bài thơ như một tự khúc của Trần Hoàng Vy viết về một chặng đường đời anh đã trải qua với bao hệ lụy đầy đắng cay lẫn ngọt ngào hạnh phúc. Mà sao chính tôi bắt gặp lại chính tâm trạng của mình...

More...

THƠ NỮ Ở TÂY NINH Trần Hoàng Vy.

By

Viết nhân ngày 8/3
                                                       

THƠ NỮ Ở TÂY NINH.

*Trần Hoàng Vy.

             Tây Ninh mảnh đất "phên dậu" của Tổ quốc ở vùng biên giới Tây nam cũng có núi có sông sơn thủy hữu tình song chưa phải là mảnh đất của Thơ ca. Tuy nhiên Tây Ninh cũng đã gắn liền với thơ ca theo chân những người đi mở cõi và giữ nước như các bậc tiền hiền : Huỳnh Công Giản Trương Huệ Lãnh binh Két Lãnh binh Tòng.v.v...Rồi đến các bậc Văn nhân thi sĩ tiền bối từ năm 1915 trở đi như các cụ Tô Ngọc Đường Huỳnh Văn Tâm Võ Văn Sâm đến Thanh Vân Toại Chí Nguyễn Thanh Phong...

              Tây Ninh cũng đã có một giai thoại gắn liền với thơ ca đó là vào năm Tân Sửu (1901) nhận lời mời của các cụ Võ Sâm Tô Ngọc Đường nữ sĩ Sương Nguyệt Anh đã lên thăm núi Điện Bà và đề thơ vịnh cây Bạch mai trên núi. Tây Ninh còn có Quán thơ trên núi đồi thơ ở Lòng hồ Dầu Tiếng và cả...mộ thơ ở Cực lạc Thái Bình!

More...

Đọc SANG THU thơ Hữu Thỉnh

By

 

SANG THU SỰ CẢM NHẬN TINH TẾ CỦA ĐẤT TRỜI VÀ CẢ ĐỜI NGƯỜI.

(Đọc bài thơ " Sang thu" của nhà thơ Hữu Thỉnh trích trong tập "Từ chiến hào đến thành phố" NXB Văn học 1991)

* Trần Hoàng Vy.

More...