PHIU* LINH THƠ PHẠM VĂN HẠNG

By

* ĐIÊU KHẮC GIA PHẠM VĂN HẠNG

*BÌA TẬP THƠ VÀ BẢN THẢO VIẾT TAY

* THV NÓI CHUYỆN CÙNG PVH.

Nhắc đến nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng sách báo trong Nam ngòai Bắc và cả ở nước ngòai đã viết khá nhiều về ông. “Sản phẩm chiến tranh” một “bức họa” độc nhất vô nhị bằng các chất liệu dây kẽm gai vỏ đầu đạn một ít cơ thể của con người bị tử nạn vì bom đạn…đã làm rung động cả miền Nam trước năm 1975 tên tuổi Phạm Văn Hạng xuất hiện như một con người “kỳ dị” “phản chiến”!

Sau ngày hòa bình thống nhất nước nhà Phạm Văn Hạng là một nhà điêu khắc tài ba các công trình nghệ thuật của ông có mặt nhiều nơi trên đất nước để lại một dấu ấn khó quên trong lòng những người yêu nghệ thuật điêu khắc. Hàng lọat các công trình tượng đài của ông đã đóng đinh tên tuổi của ông vào trang vàng của làng điêu khắc. Tượng đài Mẹ Dũng sĩ tác phẩm nghệ thuật đầu tiên tại Việt Nam được khắc họa từ vỏ đạn đồng làm nên hình ảnh Mẹ Quảng Nam- Đà Nẵng anh hùng được dựng lên ở cửa ngỏ thành phố Đà Nẵng quê hương ông là một ví dụ hay như tượng đài Nhà đày Lao Bảo mang tính huyền sử của một dân tộc bị đọa đày trong xiềng xích ngọai bang lấy hình tượng từ một ý thơ của Tố Hữu đã làm mọi người xúc động. Các công trình tượng đài điêu khắc của ông còn nhiều nhiều lắm. Chỉ cần nhắc thêm hai vườn tượng của ông tại thành phố Đà Nẵng và Đà Lạt đủ để thấy cả cuộc đời ông đã gắn liền với…đồng đất đá của nghệ thuật điêu khắc biết dường nào. Chung quanh Phạm Văn Hạng cũng có rất nhiều giai thọai. Ông tự nhận mình là… “con quỷ” những người gắn bó gần gũi yêu mến ông thì gọi trìu mến là “ Con quỷ thánh thiện…biết điêu khắc”.

Lan man nhiều như thế để thấy… tham vọng viết và hiểu về ông thật là không dễ nhất là trong lĩnh vực Thơ ca mà Phạm Văn Hạng đã tự nhận mình chỉ mới “ Tập tễnh làm thơ” cho dù ông “tập tễnh” từ  những năm 70 của thề kỷ trước!

 

“Gia tài” thơ của Phạm Văn Hạng cho đến lúc này là tập Ý THƠ do nhà XB Lao Động in vào năm 1992 theo dạng bỏ túi gồm 20 đỏan khúc. Tháng giêng 2007 NXB Hội Nhà văn ấn hành tập THƠ PHẠM VĂN HẠNG gồm 29 bài thơ viết và chuyển ngữ 3 thứ tiếng Anh Pháp Hoa với những nhận xét cảm nhận của các nhà văn học giả như Trần Phong Giao Khổng Đức Trinh Đường Nguyễn Văn Xuân Nguyễn Trọng Văn v.v…THƠ PHẠM VĂN HẠNG đã được thể hiện bằng chất liệu và kỹ thuật gò nổi trên đồng kích thước 50 X 65cm nặng khỏang trên dưới 250 cân với sự trợ lý kỹ thuật của người học trò Nguyễn Thanh Phong mất gần mười năm mới hòan thành để “ kỷ niệm 65 năm học làm người” của Phạm Văn Hạng.

Ngồi nói chuyện với Phạm Văn Hạng tối ngày 19/ 3/ 2011 là những nhà văn nhà thơ tham dự trại sáng tác Hội Nhà văn VN tại Đà Lạt gồm có Phan Thị Thanh Nhàn Nguyễn Vũ Tiềm Lò Cao Nhum Bùi Kim Anh Nguyễn Thị Ngọc Hà Nguyễn Thị Mai Trần Hòang Vy Hùynh Thị Thu Trang Nguyễn Hiệp và Nguyễn Tấn On nhà thơ của Đà Lạt Khaly Chàm của Tây Ninh sau khi … sơ giao vài ly rượu Phạm Văn Hạng nói: “ Kể từ bây giờ không ai được gọi tôi bằng anh chú bác gì cả! Chỉ gọi bằng… Hạng thôi nhé?” ranh giới thứ tự tuổi tác đã được xóa bỏ không khí chan hòa đầm ấm của tình nghệ sĩ có ai đó đề nghị Phạm Văn Hạng đọc thơ. Ông cười hiền và nói chờ…cảm hứng. Vậy là… khách đọc trước đến phiên ông ông chỉ đọc thơ của bạn bè tuyệt nhiên không đọc thơ mình. Hỏi ông chỉ nhắc lại câu nói cũ : “ Tôi chỉ là người tập tễnh làm thơ…”.

“ Tập tễnh” hiểu như thế nào thì anh Nguyễn Trọng Văn đã phân tích khá kỷ trong tập thơ của Phạm Văn Hạng rồi không nhắc nữa song tôi cứ ám ảnh mãi câu trả lời phỏng vấn của Hạng khi ông trả lời phỏng vấn của một nhà báo là “ Người làm thơ sao mà dễ quá! Tôi bạc tóc mới có 1 tác phẩm thơ.” Ẩn tình sâu xa lắm bởi hai chữ “ tập tễnh” của Hạng tôi đành để quyền suy xét cho mọi người vậy khi mà đất nước ta có quá nhiều “nhà thơ” và thơ được in ra nhiều hơn nấm mọc sau mưa!

Tôi lại sa vào câu nói nữa của Phạm Văn Hạng “ Người làm thơ có thể… nghèo bởi chỉ cần một mảnh… báo vụn người làm thơ cũng có thể chép lên đó bài thơ mình làm còn làm điêu khắc không thể… nghèo vì phải mua vật liệu rất nhiều tiền. Nghèo là hèn là nhục!?.” Tôi được biết một giai thọai Hạng làm điêu khắc là để trả… “hận tình” còn Hạng làm thơ là để trả… cái gì? Khi trong thơ Hạng đầy những trăn trở và day dứt không nguôi? May mắn và cơ duyên làm sao khi chỉ có riêng mình tôi được Phạm Văn Hạng ký tặng tập Thơ Phạm Văn Hạng và một tập bản thảo viết tay ( photo) ngòai bìa đề “ Tập tễnh làm thơ. 1990- 2010 và chữ ký của tác giả” ( Hạng nói riêng với tôi là không còn… đủ để tặng cho mọi người” thôi thì cũng là “ Chữ duyên còn một… tập này làm tin” vậy.

Thơ Hạng là triết lý nhân sinh hay là của Thiền nhân nhập định khi mà những hình khối của tượng chưa đủ sức chuyên chở hết tâm tình của Hạng? Này nhé: “ Những tấm gương/ luôn vỡ/ Sự/ phản chiếu/ không/ mòn” hay như “ Những con rối/ được sống/ Nhờ bàn tay/ nghĩ suy/ Những con rối chỉ huy/ Chỉ còn đầy/ nước mắt” ( trang 11 15 Thơ PVH). Cái chất nghệ sĩ trong con người khi cầm bay cầm đục làm ra một bức tượng quí giá với giá trị nhân văn và cái chất hạo khí của thơ có bổ sung cho nhau khi mà: “ Những bức tượng/ trong vườn òa ra khóc/ Khi nhân văn/ bị sĩ nhục giam cầm/ Đá/ Gỗ/ Sắt/ Đồng/ Không thể lặng câm” (trang 63 Thơ PVH).

Thiên hạ ngày xưa và cả ngày nay cất công “ngậm ngãi tìm trầm” cái hương liệu quí giá được ví với phẩm chất con người. Phạm Văn Hạng viết “ Trầm/ không khoe/ sắc thắm/ Hương/ bay vờn khói mây/ Ngát mùi/ Xa tục lụy/ Lâng/ lâng/ hồn vô ưu” ( trang 91). Cái cốt cách “ trầm” ấy có mấy ai “ngộ” được nếu không là người đắm chìm trong suy tưởng. Hiểu từng mảnh vụn của đá bụi do mình đục ra?  

 Cái giọt nước nhỏ bé trong ta bà thế giới này ít ai nhìn thấy được “ Giọt/ nước trong/ Đọng/ bụi trần/ hư ảo”( bản thảo). Con mắt tinh đời siêu nhìn đã thấy rất rõ những “bụi trần” thì quả là tài! Ca tụng Hạng cũng giống như làm cái việc “khen phò mã tốt áo” nhưng thấu hiểu cảm xúc của ông thì chỉ có ông mới “ Cảm xúc/ đã tan bay/ phấn son cùng hương liệu/ đắp đầy hình vô tri/ nặn người không thành tượng/ vẽ mãi người ra ma/ cầm ca ma thành thánh/ phủ dụ/ quỷ hơn người” ( bản thảo trang 9). Những lời hay ý đẹp những ý tưởng nhân sinh của người hiền minh thường cô đọng. Ngắn nhưng súc tích hàm chứa nhiều tầng ý nghĩa. Thơ Hạng không biết có phải như thế không mà có từng câu từng chữ đụng chạm vào trái tim của mỗi người “ Gạn từng tỉ năm/ ánh sáng/ chưa/ thẩm thấu/ một/ giọt/ tình” (trang 13 bản thảo).

Thơ không câu nệ cái vỏ hình thức chẳng cần vần điệu nhưng ngẫm mà xem cái thổn thức cái đau đáu của trái tim người nghệ sĩ đã vượt qua ngưỡng cửa “xưa nay hiếm” nó thân phận nó chà xát những lơ mơ ý tưởng. Câu chữ không là tượng đồng bia đá mà cứ nặng trĩu song lại như những hạt bụi khi người làm điêu khắc gọt dũa những công trình. Những hạt bụi làm ta xốn xang và cay mắt đến bất ngờ.

Tôi nghĩ: Nhà thơ Trinh Đường khi nhận xét về thơ Phạm Văn Hạng đã có những câu thật chí lý: “ Có cảm giác PVH vừa tìm ra được một cách biểu âm mới một chìa khóa bí mật để đọc một lối chữ tượng hình mới. Thơ PVH hầu hết là những nguyên lý rút ra từ đời sống nhiều tư tưởng như được phát quang từ những nơi tiềm ẩn của chính chúng ta” ( trang 126 Thơ PVH). Nhà lý luận phê bình Khổng Đức Đinh Tấn Dung dẫn lời nói của Edgar Poe để kết luận về thơ PVH “ Không cần phải tạo ra những câu thơ hay đẹp mà phải là những câu thơ đầy ý thức. Một tác phẩm xuất sắc chỉ nên căn cứ vào mức độ ý thức của nó”.

Với tôi ư phiêu linh trong những miên man có khi còn hạn chế của mình cái chất “quỷ” của Phạm Văn Hạng dường như có cả chất “quái nhân” “kỳ nhân” và cả “hiền nhân” tôi cố gắng làm hạt bụi kết dính vào cái cõi thơ ma quỷ- thần Phật của ông mà chiêm nghiệm may mà ngộ chút ít để “ Có thương đau/ mới thẩm thấu cuộc đời/ Có suy tưởng/ mới/ tìm/ ra/ hư/ thực” vậy…

 

                                            NST Đà Lạt 26/ 3/ 2011

                                                        T. H. V.

  (*) Chữ viết theo ý PVH   

More...

TÍN HIỆU TỪ MỘT CÂY VIẾT HỌC TRÒ.

By

 

Cách đây chừng hơn một năm gì đó nhà thơ Nguyễn Quốc Việt cho tôi xem tập thơ viết tay của một cậu học trò. Những bài thơ được chép nắn nót cẩn thận cả tôi cùng với  Nguyễn Quốc Việt đều chung một nhận định: Thơ làm chuẩn có hồn nhưng bị ảnh hưởng quá nhiều bởi Hàn Mạc Tử. Có lẽ nếu được dìu dắt bồi dưỡng em sẽ là người làm thơ trẻ có triển vọng…

     Thời gian gần đây đọc một số bài thơ em viết đăng trên tạp chí Văn nghệ tỉnh và báo Tây Ninh lòng mừng cho em bởi những hồn nhiên tươi trẻ không còn cái cảnh ám ảnh bởi “gió trăng” và “đau đớn quằn quại cùng trăng” nữa. Vâng đó là thơ học trò của lứa tuổi học trò với những mộng những mơ đầu tiên. Bài thơ “Bé ạ” với những câu “ Bé ạ…mai vàng bé biết không?/ Cuối năm chẳng thấy bé môi hồng/ Thì anh chạy tuốt…ra ngoài Bắc/ Bẻ một cành đào xua tiết đông…/ Bé ạ sao đành cứ ngó lơ?/ Có anh vì bé đứng làm thơ/ Có anh vì bé luôn luôn…rảnh/ Cắm một “cây nêu” trước cổng chờ…” có cái giọng điệu “giông giống” với một ai đó song sự phát hiện thì thú vị và tinh tế…khó ngờ. Bởi lẽ cái hình ảnh “Cành đào xua tiết đông” và “ Cắm một cây nêu” là hình ảnh “riêng” của em rồi. Ở một bài thơ khác em viết “ Vắng nhỏ anh thành thi sĩ/ Xỏ nhằm đôi “dép quốc doanh”/ Làm thơ kiểu này lép vế/ Nhưng anh vì nhỏ nên đành…( Thơ cho nhỏ). Rõ ra một chàng trai mới lớn đang tập tành…ga-lăng! Hồn nhiên dễ thương.

     Chàng trai trẻ…mới lớn ấy là Bùi Bảo Kỳ học sinh lớp 12 trường PTTH Lý Thường Kiệt ( Hòa Thành Tây Ninh). Ngày thơ Việt Nam vừa rồi (15/ 1AL Tân Mão 2011). Bùi Bảo Kỳ đưa tôi xem một chùm thơ mới của em. Thơ làm “chắc tay” tròn trịa không cần phải “sửa chửa” gì song man mác cái buồn trăn trở : “ Không ngủ được/ đêm cựa mình trong những giọt café/ tự họa/ Bóng tối mịt mờ/ nín thở/ buông rơi/ Những câu thơ dài lê thê đắng ngót/ trở mình trong đêm/ không ngủ được…” hay trong bài thơ ( Một người dưng) Bùi Bảo Kỳ đã có cái suy tư “ Em tìm gì thành phố mưa bay?/ giọt ký ức lăn nghiêng/ chạm vào lạnh buốt/ Anh tìm lại cho mình những gì là thân thuộc/ giọt nhớ đen ngòm/ phố đứng suy tư”. Mừng vì những câu thơ bật ra tự tâm hồn lo lắng dường như chạm phải một người thơ…từng trải?

     Với bài thơ lục bát trình bày theo kiểu hiện đại khó có thể chê về mặt “thi pháp” lại bắt gặp cái chất ngất “Sầu li biệt”: “ tạ từ/ cuộc lữ/ thiên di/ giấu trong khóe mắt/ sầu li biệt/ sầu/ chân về/ kéo vội/ qua mau/ ngón tay ngoan/ giữ cho nhau/ chút tình…” (Thiên di).

     Cây viết trẻ Hạ Vi Phong từng tâm sự: “ Mong muốn những người đi trước có cái nhìn khoan dung rộng mở…để động viên lớp trẻ…” tôi cũng muốn “nhìn” Bùi Bảo Kỳ bằng đôi mắt của bạn bè để phát hiện rằng Kỳ có năng khiếu làm thơ một tín hiệu vui và đáng mừng. Thơ Kỳ vượt khá xa lứa tuổi của mình. Con đường phía trước Kỳ là…học hành thi cử là hứa hẹn tương lai…Yêu thơ và làm thơ như Kỳ là đáng quí nhưng hãy sống bằng hồn nhiên và lứa tuổi thanh xuân. Tôi tin thơ Kỳ trong tương lai sẽ là tín hiệu mới…

 

 

More...

đọc tập thơ ĐƯỜNG TIM của Nguyễn Văn Tài

By




 

LỐI THƠ CHƠN CHẤT ĐI VÀO ĐƯỜNG TIM

( Đọc tập thơ ĐƯỜNG TIM NXB Văn Hóa Văn Nghệ quí I / 2011 của Nguyễn Văn Tài)

* Trần Hoàng Vy.

     Cái tên Nguyễn Văn Tài được nhiều người ở Tây Ninh và bạn bè biết đến là qua "duyên nghiệp" với Thơ. Nguyễn Văn Tài còn được nhắc đến qua cái bút danh Áo Thường Dân mỗi khi anh viết báo. Những bài báo những cái tin ngắn thôi nhưng cũng gây được những nỗi niềm của bạn đọc. Tôi biết Nguyễn Văn Tài làm thơ đã khá lâu rồi những năm đầu của thập niên 1970 khi anh còn ở Mỹ Tho. Về Tây Ninh chọn làm quê hương thứ hai thơ Tài như man mác những thân phận của sông nước. Chút lắng sâu trăn trở của con người nhớ quê từng trãi song cũng chơn chất tất cả bởi vì " Tôi cầm thơ tôi đứng xếp hàng/ Chờ đến lượt mình đi qua ngưỡng cửa/ Chẳng có thác ghềnh đâu/ Chẳng dầu sôi bão lửa/ Đơn giản một điều: Khẳng định con tim." (Hoa thơ trang 12).

     84 trang 54 bài thơ 3 bài cảm nhận của bạn bè 1 phụ bản thơ phổ nhạc đều là những con số...đẹp. Tập thơ được sự tài trợ của quĩ hổ trợ sáng tác Hội LHVHNT Việt Nam và Hội VHNT Tây Ninh từ cuối năm 2010. Đây cũng là tập thơ "Đầu tay" của thi sĩ Nguyễn Văn Tài nên anh... cẩn thận in cẩn thận...ém kín và chọn giải pháp phát hành khôn khéo là trong Ngày thơ VN ( 15/ 1 AL Tân Mão). Thơ đến đúng với người yêu thơ và lan tỏa khắp trong lòng bạn bè...

     Cái khó của một người lần thứ hai viết về một tác giả sợ mình trùng lắp sợ mình... quá quen mà bỏ sót những điều bạn muốn nói muốn tâm sự nhưng cái giản dị chơn chất trong thơ lục bát của Nguyễn Văn Tài đã giúp tôi tìm đến được với "Đường tim" của anh. Biết rằng nhà thơ cũng khao khát biết bao " Nhịp tim cùng nhịp sinh sôi/ Hòa trong đất nước con người tình yêu.../ Lắng sâu nhiệt huyết bao điều/ Từng đêm trang viết đọng nhiều trở trăn/ Đường tim- thôi thúc đăng quang..."( Đường tim trang 14). Với đất nước Nguyễn Văn Tài thủ thỉ " Cứ hiền dịu nhé Cửu Long/ Ta đâu phải kẻ bạc lòng cố hương" rồi là " Cứ là vậy nhé! Cửu Long/ Cứ bao dung những tấm lòng thương quê/ Cứ bao dung những chuyến về..." với quê hương Tây Ninh Nguyễn Văn Tài viết " Quê hương từ thuở kiêu hùng/ Thu mang huyền sử vô cùng trong thu" và " Mùa thu em và Tây Ninh/ Anh mang vào cuộc hành trình trăm năm" ( Tây Ninh mùa thu và em trang 15). Thú thật tôi rất thích câu " Thu mang huyền sử vô cùng trong thu" nhưng lại ngại dùng các từ đã có rất lâu như "kiêu hùng" " hành trình" mà  Tài đã thể hiện.

     Hình ảnh núi mà cụ thể là ngọn núi Bà Đen niềm tự hào của người Tây Ninh được Tài ghi nhận " Rồi từ đó máu hồng ngừng chảy/ Để thấy người về thăm lại núi Bà.../...Em sông Hậu hay sông Tiền lên đó!/ Bánh nếp vương theo tình Cai Lậy Cái Bè/ Hương kẹo Mỏ Cày ướp dừa ngọt Bến Tre/ Huệ trắng Tân An thơm phù sa Vàm Cỏ/...Tôi vỗ nhịp hồn nhiên câu hát/ Điệp khúc bao lần: Ai về Tây Ninh...!" (Tình núi trang 16) cũng thật hồn nhiên nhuốm chút mộc mạc của người châu thổ như tấm chân tình của nhà thơ.

     Những bài thơ "cho người" Tài viết có lúc như giãi bày lòng mình " Lòng không còn gì để buồn nữa/ Trầm luân nhân thế đã xong rồi/ Nhiều lúc lặng ngồi trên bậc cửa/ Thấu hiểu ra nhiều chuyện trên đời" ( Phật bạn trang 69) khi thì trăn trở suy tư " Phật đã một đời thương chúng sinh/ Chốn bon chen nổi đám nổi đình/ Phật cũng một thời yêu lận đận/ Đớn đau bầm dập trái tim mình..." thảng hoặc sự nghi ngờ " Xót thương cái trượng- phu-hề!/ Chưa chi đến tuổi- về- quê mất rồi" (Tào lao trên bến chiều trang 68).

Trong tình yêu Nguyễn Văn Tài luôn viết về người vợ tấm mẵn tào khang của mình " Chút tình xuân tuổi xuân em/ Thuở ban đầu ấm buồng tim đến giờ" (Em trang 52). Người thơ đã xác tín với chính mình " Khi em ta gọi là nàng/ Ừ! Nàng tiên xuống trần gian thật rồi" vẫn với sự chơn chất trung thành " Khi đời ta có đời em/ Và đời con nữa rất thèm mộng mơ" và còn " Lỡ mai tóc điễm hai màu/ Giấc mơ chồng vợ bạc đầu còn yêu/ Lòng ta tình có bao nhiêu/ Trời đêm nay mọc sao nhiều phía em" (Đêm trần tình trang 53).Không dễ gì nuôi con ăn học Đại học trưởng thành và thành đạt đối với một viên chức ngành Giáo dục xa quê lại mê đắm với thơ như Tài. Anh bộc bạch " Có thế cha mới thấy mình hữu ích/ Thấy đời mình thanh thản/ Bao lo toan giờ có phút giây này.../...Ôi mười năm quằn quại đôi vai.../ Con tuyệt vời cha cũng chắp cánh bay..."(Thơ viết ngày con vào Đại học trang 54).

     Hai bài thơ ( Thiếu- phụ- hương trang 61 và Tin nhắn nửa đêm trang 62) khiến tôi chợt lạ: Là lúc ở Nhà Sáng tác Đà Lạt Nguyễn Văn Tài đưa tôi xem bài thơ " Thiếu- phụ- hương" khiến tôi ngạc nhiên và mừng cho bạn bởi cái mới đã lóe ra trong thơ Tài. Cái tên bài thơ đã lạ câu chữ cô đọng hơn song vẫn giữ cái tạng riêng " Diệu kỳ thay! Một nụ hôn/ Tiêu tan mất chuyện...trời vuông đất tròn.../ Lạ thường em thiếu- phụ- hương/ Ta chơi vơi gọi ngông cuồng: Tóc em!" cái mái tóc của người đàn bà đã giúp tác giả liên tưởng đến một thiếu- phụ- hương thì cũng lạ! Về Tây Ninh một thời gian Nguyễn Văn Tài lại viết bài thơ " Tin nhắn nửa đêm" không phải để làm...dáng mà cái ý thức làm mới hơn trong thơ đã đến với tác giả qua những vật thể hiện đại " Đêm trở giấc ta biết mình thiếu chữ/ Để gửi cho người thêu ước mơ/ Ngày mai tới và tình xa sẽ cũ/ Nghe xót xa/ Ngoài hiên gió đưa"...Mừng cho anh đã bước qua cái giới hạn của thơ mình!

     Khép tập thơ trời như cũng dần chiều hương xuân mới vẫn còn đâu đây trong phòng viết. Tôi thích cái chơn tình mộc mạc của thơ Tài. Cả tôi và Tài đã vượt qua cái lằn ranh "Tri thiên mệnh" song vẫn luôn tin mình vẫn còn trẻ trong cuộc đời và nghiệp thơ...

Vàm Cỏ 19/ 2/ 2011.

T. H. V  

More...

CUỐI NĂM ĐỌC VĂN HỌC TÂY NINH

By


                                 

 

" Văn học Tây Ninh" tập sách của nhiều tác giả do Hội VHNT Tây Ninh và NXB Thanh Niên ấn hành tháng 12/ 2010 là một nỗ lực tuyệt vời của những người sáng tác văn học trong tỉnh khi kết thúc năm 2010 một năm có nhiều sự kiện quan trọng: Kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng đất nước chào mừng Đại hội Đảng các cấp và hướng về Đại lễ 1.000 năm Thăng Long- Hà Nội.

     Tập sách "bề thế" trang trọng với bìa cứng do họa sĩ Đặng Văn Thức trình bày khổ 16 x 24cm dày 480 trang tập hợp 26 tác giả sáng tác văn học ở khắp nơi trong tỉnh. Đây có thể được coi như một "món quà tặng" đầy ý nghĩa mang màu sắc văn học sinh động của một tỉnh biên giới miền Đông Nam bộ quê hương Tây Ninh trung dũng kiên cường.

     Không phải ngẫu nhiên mà sự sắp xếp các tác giả trong tập lần này lại theo thứ tự...độ tuổi mà không theo sự trật tự thông thường của an-pha-bê! Tác giả mở đầu và lớn tuổi nhất của tập là nhà thơ Cảnh Trà (sinh năm 1937) người nhỏ tuổi nhất ở cuối tập là Hạ Vi Phong (sinh năm 1983) vì sao tôi lại chú ý điều này? Bởi lẽ đơn giản dễ hiểu là dòng chảy sáng tác luôn có người tiếp nối và kế thừa từ thế hệ 3 4x cho đến 8x...là điều thật đáng mừng mong mõi có thêm những 9x và nhiều nữa những cây viết trẻ góp phần hương sắc cho văn học tỉnh nhà.

     Bên cạnh những nhà văn nhà thơ đã thành danh những tên tuổi quen thuộc trong tỉnh  như Cảnh Trà Nguyễn Đức Thiện Trần Hoàng Vy Phùng phương Quý Nguyễn Quốc Việt Nhất Phượng La Ngạc Thụy Nguyễn Văn Tài Phan Kỷ Sữu Vũ Miên Thảo Đào Phạm Thùy trang Đặng Mỹ Duyên...là những gương mặt trẻ: Trương Thứ Bảy Hoàng Nguyên Hạ Vi Phong...đã tạo nên một không khí chung nhiều màu sắc và bút pháp đa dạng cho tập khơi gợi được nhiều vấn đề cho người đọc khi tìm hiểu về văn học của một tỉnh một vùng đất.

     Đó là lối viết tươi tắn phần lớn là những bức "tranh thơ" sinh động về người và vật của vùng quê kiểng Hòa Hiệp Châu Thành. Những bài thơ của nhà thơ Cảnh Trà vừa hóm hĩnh vừa mang tính triết lý của nghệ nhân dân gian " Mùa lúa chín/ Mùa của tuần trăng mật" (Mùa lúa chín trang 11) hay như " Tôi chợt nhận ra/ Có biết bao làng quê trên đất Việt/ Như quả mít/ như Lồ Cồ" ( Ấp Lồ Cồ trang 8) và nhà thơ đã khẳng định " Người Tây Ninh có chất miền Tây/ Người Tây Ninh có chất miền Trung/ Người Tây Ninh có chất miền Bắc/ Vì Tây Ninh là dân miền Đông!". Sự khẳng định ấy cũng đúng thôi bởi Tây Ninh cũng là xứ sở của người xưa mở cõi là nơi tụ hội người của ba miền quần tập làm ăn và sinh sống là sự giao thoa của các vùng miền văn hóa khác nhau kể cả cộng đồng người Khmer người Chăm vì thế cái nét riêng vùng miền cái bản sắc tinh hoa của dân tộc ở Tây Ninh đều có. Song là tỉnh lỵ nhỏ cho nên tầm vóc và bề dày của một nền văn học lâu đời chưa hình thành nên được. Soạn giả Đỗ Thanh Hiền cũng góp mặt vào tập với hai mẫu truyện ghi là "Hồi ức" kể về những kỷ niệm cùng các nhà văn lớp trước ở căn cứ R. và những gian nan vất vả của những người làm "nhà đài" trong kháng chiến chống Mỹ ở vùng giải phóng " Đài phát thanh Giải phóng trên vai chiến sĩ" (trang 26) đã giúp bạn đọc nhất là những bạn trẻ hiểu được thế nào là "ý chí" sự gắn bó "nghĩa tình" và những nguy hiểm vất vả của những người "Chiến sĩ giải phóng" cách đây gần bốn mươi năm!

     Những truyện ngắn và ký của Nhất Phượng La ngạc Thụy Thạch Minh Nguyễn Công Sao Thiên Huy...đều tập trung phản ánh những hoạt động bình dị hàng ngày của người dân Tây Ninh vốn thật thà hiền lành chịu thương chịu khó. Họ là những anh Cựu chiến binh trong truyện của Nguyễn Công Sao Út Ngân của Thạch Minh Tư Nhờ Hai Nhành của Nhất Phượng...như cuộc sống vốn có ở khắp nơi trong tỉnh vậy.

     Thể loại ký bút ký truyện ký tuy chiếm một dung lượng không nhiều nhưng dưới ngòi viết của các tác giả đã phản ánh được hơi thở ấm áp của cuộc sống có thể là tất bật hối hả bởi công việc giúp bạn trồng mới cây cao su ( Minh Phương) hay những trăn trở day dứt của người nông dân trên cánh đồng ( La Ngạc Thụy Trần Hoàng Vy) về con cá cây lúa cây mía hay một phương thức canh tác. Và trong những bề bộn của cuộc sống của xây dựng và phát triển là những khúc lặng về tình đời tình người trong truyện của Nguyễn Đức Thiện Thiên Huy Phùng Phương Quý Đào Phạm Thùy Trang Tuyết Anh...và cả những cảnh báo lên tiếng về sự suy thoái đạo đức những giả dối đố kỵ tham lam bào mòn cuộc sống và kể cả những báo động về môi trường môi sinh của cuộc sống ( Quê hương- dòng sông Lu lu Số đề buổi sáng...). Mảng văn xuôi với nhiều đề tài đã truyền tải và phản ánh đúng hiện thực của cuộc sống thông qua những thủ pháp dựng truyện xây dựng tình tiết và thủ pháp hư cấu đã giúp người đọc tiếp cận với tác phẩm một cách hứng thú cảm nhận và đánh giá được điều mà tác phẩm chuyên chở. Và tôi muốn dành ra vài dòng để viết về một tác giả văn xuôi nhỏ tuổi nhất trong tập là Hoài Nguyên với 2 truyện ngắn đã chạm được vào những đồng cảm của bạn đọc. Truyện ngắn " Lạy trâu" bật trội hơn truyện ngắn "Lá vàng trên thềm rêu xanh" có cái tựa hay như một tứ thơ nhưng chưa thật tròn trịa còn gượng về mặt xúc cảm. Song có thể khẳng định Hoài Nguyên sẽ còn tiến xa và thành công nếu cô thật sự đam mê với văn học.

     Chiếm phần lớn số trang trong tập là mảng thơ với hơn 80 bài thơ của 15 tác giả hầu hết là tập trung ca ngợi những vẽ đẹp của sông núi vùng đất " Thánh địa của Cách mạng". Núi thì có Bà Đen mà theo cảm nhận của Trương Thứ Bảy là " Núi xanh/ Bên cao bên thấp/ Bên chờ chồng- bên thức ru con" ( trang 439) và người thơ hình dung " Dáng mẹ hiên ngang/ Như ngọn núi Bà/ Dáng núi hiên ngang/ Như là dáng mẹ" (trang 439). Sông thì là Sông Vàm Cỏ từ con rạch Rạch Me hòa ra sông Vàm Cỏ Nguyệt Quế đã viết " Chưa chạm vào ngã ba sông/ Đong đưa con nước mở lòng dang tay..." ( Trang 225) còn Nguyễn Quốc Nam một lần trở về thì " Về thăm Vàm Cỏ Đông/ Thuyền ai trôi xuôi dòng/ Hoa lục bình tim tím.../ Tím cả những khúc sông.../ Về bên sông mới biết/ Sông vẫn còn như xưa/ Ôi lòng ta tha thiết/ Trên võng đời đong đưa" (trang 266). Với Nguyễn Thị Kim Liên thì đó là bến sông quê " Đâu rồi những tiếng gươm khua/ Đâu rồi tiếng giã bàng khuya bập bùng/ ... Dập dềnh theo tiếng sóng xô/ Nghe đâu đó tiếng người xưa vọng về..." ( trang 376).

     Thơ vốn nghiêng về phía cảm xúc cùng với cảm hứng thẩm mỹ mà hình thành. Những vần thơ ngợi ca trong tập cho dù là viết về một tấm gương một nhân vật cụ thể cũng sẽ khó đi tận cùng của cảm xúc những ca ngợi cảm tính sẽ làm câu thơ cứng mộc khó thuyết phục. Song nếu khai thác ở mặt chân thành của những gần gũi hay chính bản thân câu thơ lại làm ta lay động. Đó là những câu thơ của Mỹ Duyên " Cũng đành/ Lỡ đục lỡ trong/ Sương treo bông bưởi/ Rớt vòng nhện giăng." Hoặc như " Thơm một miếng vào dấu yêu bữa nọ/ Bữa lăn tăn mà biển cuộn sóng lừng" (trang 397). Với Nguyễn Văn Tài thì " Gương đêm mờ ảo bóng hình/ Ta nhìn ta- Phải ta nhìn ta chăng?/...Mịt mờ sương khói phù vân/ Ta phiêu diêu giữa một lần thấy ta" ( trang 297).

     Tác giả nhỏ tuổi nhất trong tập cũng là tác giả nhỏ tuổi của mảng Thơ là Hạ Vi Phong với 5 bài thơ. Thơ Phong chưa có nét mới nghiêng về truyền thống. Câu chữ chưa thật thăng hoa song khá ý nhị và trong sáng đặc biệt là với lứa tuổi của Phong " Nhỏ đừng mơ nữa nhỏ ơi/ Kẻo trong cổ tích rong chơi quên về" (trang 474) và " Lâu lắm rồi phải không em?/ Từ cái ngày mưa giăng sầu ngang núi/ Con thạch sùng buồn thôi không chắc lưỡi/ Ta ngại ngùng đi về phía không nhau" (trang 472).

     Cũng thật khó mà nhặt ra hết những câu thơ hay lạ ám ảnh ta bởi cảm nhận là vô hạn cũng thật khó khi phải điểm ra tỉ mĩ từng tác giả bởi sự giới hạn của một bài báo. Tôi cũng không có ý định chỉ ra những hạn chế hoặc sai sót của tập "Văn học Tây Ninh" lần này song cũng là ý kiến bên lề. Ví như vẫn còn sai lỗi chính tả khá nhiều. Một chi tiết rất nhỏ thôi: câu " Dưới một gốc Tung cổ thụ" ( trong Ngồi chờ hoàng hôn trang 229) chữ "Tung" không có dấu huyền được in thành " Dưới một gốc Tùng cổ thụ" có dấu huyền là...đủ gây chuyện "lớn" Bởi đất nước chùa Tháp thì tìm đâu ra "cây Tùng cổ thụ" hóa ra tác giả không biết gì? Hay ý kiến về thể loại Văn xuôi không có "Hồi ức" "truyện vui"...ghi như thế là không đúng hoặc như bất chợt lật một truyện ngắn hay một bài thơ thì khó biết ai là tác giả phải mắc công lật lại đầu tìm tác giả hay lật mục lục xem giá mà ở góc phải hoặc trái in tên tác giả thì người đọc đỡ mất công hơn. Một điều hơi tiếc là mảng thơ vẫn có những bài "làng nhàng" trung bình và thiếu nhiều những cây viết như nhà văn Vân An Phan Phụng Văn Khaly Chàm Đặng Hoàng Thái v.v...

     Nhưng dù sao đây vẫn là một đóng góp to lớn của những người viết và Hội VHNT Tây Ninh tập sách vẫn ghi được dấu mốc của chặng đường văn học Tây Ninh trong năm 2010 với đông đảo bạn đọc trong tỉnh và cả nước.

More...

đọc "MẮT XANH". thơ TRẦN NGỌC HƯỞNG.

By



 

MẮT XANH VÀ CÁI DUYÊN VĂN HỌC

* Trần Hoàng Vy.

     Trên tay tôi là tập chân dung văn học thể hiện bằng thơ của nhà thơ nhà giáo Trần Ngọc Hưởng ( Tác phẩm " Mắt xanh" NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 9/2010). Sách dày 144 trang viết về 26 gương mặt thơ văn của dòng văn học đương đại Việt Nam.

     Có thể là do ngẫu hứng cũng có thể là do cái duyên tri ngộ hết sức tình cờ hoặc đặc biệt mà nhà thơ chỉ chọn ra 26 chân dung trong đó có mình với đôi dòng phác thảo về thân thế sự nghiệp cùng với một hai bài thơ khắc họa trong đó liệt kê tên các tác phẩm của chân dung đã đề cập. Một việc làm không cũ cũng không mới nhưng đặc biệt. Bởi lẽ qua cách viết này tác giả phải có một năng lực cảm thụ và khái quát cao cùng tài thơ uyển chuyển thấu lý đạt tình của mình. Một công việc không phải cây viết nào cũng có thể thể hiện được.

     Chỉ với "Vài dòng..." ở trang 5 6 7 và 8 bạn đọc đã nắm bắt được Trần Ngọc Hưởng là ai? Cuộc sống và duyên nợ văn chương thế nào? Một sự PR rất khéo của chàng trai quê cù lao Lợi Quang thuộc Tân Phú Đông Tiền Giang xuất thân từ gia đình bán tạp hóa nhỏ ở chợ huyện Gò Công Tây nhờ cái gian "hàng xén" nhỏ ấy mà Trần Ngọc Hưởng làm quen với các sách báo của Do Quang Tân Việt Bút Nghiên (Mỹ Tho). Lên Thị xã Gò Công rồi Sài Gòn trọ học chàng thư sinh quê sông Tiền ấy may mắn gặp gỡ các nhà văn Sơn Nam nhà thơ Kiên Giang càng nuôi cái mộng văn chương và mang nó suốt hành trình về Long An dạy học từ năm 1972 và bấy giờ là giảng viên khoa Ngữ văn của trường CĐSP Long An Hội viên hội Nhà văn Việt Nam.

     Bạn đọc còn được biết "Mắt xanh" là tác phẩm thứ 9 của Trần Ngọc Hưởng (Không kể 8 luận đề và 3 tập thơ dịch được in dùng cho công tác giảng dạy) đủ biết anh miệt mài và mê đắm với văn chương chừng nào. Tập "Mắt xanh" lần này trọng tâm là chân dung văn học và cái cách anh lựa chọn cũng không theo một qui luật nào: Người lâu nhất và xưa nhất là Hồ Biểu Chánh rồi Bình Nguyên Lộc Hữu Loan Phi Vân Võ Hồng Lý Văn Sâm... đến người mới như Phạm Công Trứ Ánh Tuyết. Có người đã mất có người còn sống (Việt Chung Tử Phạm Thiên Thư Minh Đức Triều Tâm Ảnh Trần Anh Tài Phạm Công Trứ Ánh Tuyết...). Có người miền Tây ( Hồ Biểu Chánh Phi Vân Truy Phong) có người miền Đông ( Lý Văn Sâm Thẩm Thệ Hà...) có người miền Trung miền Bắc có người tầm văn chương lan tỏa cả nước có người chỉ ở khu vực song với tấm lòng tri ngộ trân trọng... Trần Ngọc Hưởng đều kỳ công có thơ cho chân dung ấy. Viết về Hồ Biểu Chánh Trần Ngọc Hưởng kết luận: " Nhà văn lớn đất phương Nam/ Đọng hồn sông nước mênh mang bến bờ/ Lục bình nghìn cụm dật dờ/ Vượt qua một cõi hoang sơ thế tình!" ít nhiều đã khắc họa cái cốt cách văn phong Hồ Biểu Chánh hay như Sơn Nam thì: " Nghe ngan ngát những hương rừng/ Cà mau Vọc nước Giỡn trăng tội tình! Đi về Hai cõi u minh/ Sơn Nam...đỉnh núi một mình Phương Nam...Từng trang văn mở đây rồi/ Ông già Nam bộ của tôi vẫy chào/ Gốc cây Cục đá Ngôi sao/ Lắng nghe hạt bụi bay vào ngàn năm".

Với Phạm Thiên Thư Trần Ngọc Hưởng viết: " Suối nguồn một cõi mênh mang/ Ngửa lên cúi xuống nhân gian mịt mờ/ Lòng thiền khẽ động bao giờ/ Hóa văn hóa chữ hóa thơ...tặng đời" còn với Nguyễn Tất Nhiên người đình đám một thời ở miền Nam thì: " Xót con nước lỡ xa nguồn/ Quê xưa lạc giữa mười phương bụi hồng/ Nhà thơ về cõi hư không/ Duyên con mắt biếc môi hồng với ai!" nếu không tri kỷ tri âm anh sẽ khó có những cảm nhận tưởng chừng bình thường nhưng lại tinh tế như thế.

     Ngoài những hình ảnh và bút tích của những chân dung mà Trần Ngọc Hưởng đã "vẻ" bằng thơ tập sách còn có thêm các phụ lục khi nhà thơ đến viếng mộ cụ Tú Xương hay bất chợt nhớ về Bích Khê Thạch Lam Nam Cao v.v...cũng bằng sự cảm nhận thâm trầm hồn hậu của một tâm hồn nhà giáo không khoa trương cường điệu. Đi từ những tiếp xúc ban đầu với tác phẩm chiêm nghiệm và đồng điệu bằng trái tim đam mê văn học để rồi truyền dần sự đồng cảm ấy bằng những vần thơ ăm ắp nhân tình.

     Tôi cũng là một nhà giáo làm văn chương lại ở gần dòng sông Vàm Cỏ Đông Trần Ngọc Hưởng ở gần dòng Vàm Cỏ Tây. Hai gã họ Trần hai phía của dòng Vàm Cỏ cũng coi là tri ngộ khi đã nhiều năm đọc tác phẩm của anh và có thể nói " Khen cho con mắt tinh đời" con mắt ấy là "Con mắt xanh" nên hiển nhiên sự nhìn nhận đánh giá vừa phải có sợi dây vi diệu của "ngộ" và "duyên" nó còn đòi hỏi ở "tuệ giác" tri thức với sự công bằng vô tư. Trần Ngọc Hưởng vốn là nhà giáo anh có thuận lợi của việc nắm vững phương pháp tiếp cận tác giả tác phẩm. Tập "Mắt xanh" cũng có thể là một tập "tư liệu" cho những người muốn "truy cập" nhanh các tác giả mà nhà thơ yêu mến và yêu thích. Không thể đòi hỏi hơn ở Trần Ngọc Hưởng là phải có tác giả này tác giả kia. Vì bởi một chữ "tình" và chữ "duyên" trong tập sách mà Trần Ngọc Hưởng muốn gửi tặng.


Vàm Cỏ Đông ngày 29/10/2010.


T. H. V

More...

giới thiệu thơ TUẤN ANH ( HỘI NV. HP)

By



 

QTVC VỪA NHẬN ĐƯỢC TẬP THƠ GIẤC MƠ KHÔNG NƠI CƯ TRÚ NXB HỘI NHÀ VĂN ẤN HÀNH NĂM 2010 DO NHÀ THƠ TUẤN ANH ( HỘI NHÀ VĂN HP) GỬI TẶNG. TẬP THƠ GỒM 64 TRANG 26 BÀI THƠ. ĐÂY LÀ TÁC PHẨM THỨ HAI ( SAU TẬP Ô CỬA THÁNG GIÊNG 2005) CỦA TUẤN ANH. QTVC XIN CÁM ƠN VÀ TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU VỚI CÁC BẠN BÈ GẦN XA.


GỌI CHIỀU


Vê vê tí buổi chiều

Giắt vài cạp quần

Rồi đi


Nga ngả đông

Nga ngả tây

Nga ngả thế nào mà chả được

Mình ấy mà mình có là gì đâu


Hoàng hôn nào rồi cũng vậy thôi

Vắt vẻo qua

Trôi trôi về hốc núi


Ngày thì ngắn

Chiều thì dài

Thôi cứ kệ chiều cũng về thơi thả

Hết chiều rồi đêm chiều lại lên...


Ở LINH ĐÀM

                       Cho chị Mỳ


Có thể đường không cao

Có thể lối không sâu

Chỉ là mờ ảo

Trong đôi mắt mình


Có thể chỉ là hiện sinh

Lọc qua ba nước

Ngâm qua ba đêm

Đã thành thư cổ


Có thể nước sông Hồng đừng đỏ

Thì tôi đâu nỡ nhớ nhà

Có thể gần rồi lại bỏ

Âu cũng là hư không?...


( trích trong tập Giấc mơ không nơi cư trú TUẤN ANH)

More...

Tây Ninh được mùa in sách văn học.

By




 

HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TÂY NINH ( VHNT. TN) ĐƯỢC MÙA IN SÁCH VĂN HỌC

* Trần Hoàng Vy.

     Năm 2010 sau ba tập sách " Kiếp người xuống xuống lên lên" của Nguyễn Đức Thiện " Tự khúc +" của T.H.V và " Đồi thông và hoa và em" của Minh Phương ở vào giữa tháng mười này Hội VHNT. TN đã tài trợ từ nguồn quỹ Hổ trợ sáng tác của Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam cho các tác giả Hội viên của Hội. Các tác giả đã in sách văn học gồm có: Nhà văn Nguyễn Đức Thiện với tập phê bình tiểu luận " Tôi & Bạn Bạn & Tôi" nhà thơ trẻ Trương Thứ Bảy với tập thơ " Những ngón tay rỉ máu" bên cạnh là cô giáo nhà thơ Lê Thị Phù Sa với tập thơ " Tình khúc mưa" còn lại các nhà thơ Nguyễn Văn Tài Khaly Chàm... đang chờ giấy phép của Nhà xuất bản. Một tín hiệu khởi sắc và đáng mừng cho giới cầm bút ở một tỉnh nhỏ ít có những diều kiện để thưởng thức Văn chương.

     * Tác phẩm Phê bình tiểu luận " Tôi & Bạn Bạn & Tôi" của nhà văn Nguyễn Đức Thiện do nhà Xuất bản Thanh Niên ấn hành sách dày 320 trang đây là tác phẩm thứ 16 của Nguyễn Đức Thiện gồm những bài viết của nhà văn viết về các sáng tác của bạn bè văn thi hữu cả nước và những bài bạn bè viết về những trang viết của Nguyễn Đức Thiện. Sách chia làm hai phần: Phần một những bài viết của tác giả đối với bạn bè gần xa trong đó ở mảng văn chương Tây Ninh anh đã viết về Vân An Cảnh Trà Trần Hoàng Vy Nguyễn Quốc Việt Vũ Miên Thảo Nguyễn Văn Tài... bằng những cảm nhận rất tinh tế của tình văn chương bè bạn. Phần hai là phần bạn bè viết về Nguyễn Đức Thiện các bài viết của nhà thơ Trịnh Thanh Sơn Tùng Bách Cảnh Trà T. H. V Phó GS TS Vũ Nho... đã khắc họa tính cách và chuyện đời chuyện nghề của nhà văn.

     Trong tập người đọc còn bắt gặp và đồng cảm với những băn khoăn suy nghĩ của nhà văn Nguyễn Đức Thiện dành cho những cây viết trẻ hay nỗi lòng với văn học về người Công nhân Nông dân trong xã hội. Nghĩ về nghiệp văn Nguyễn Đức Thiện viết: "Tôi nghĩ rằng: Vào thời buổi này bất cứ ai dám cầm bút viết một bài thơ một truyện ngắn và làm thành một tập sách không chỉ cho riêng mình mà còn đóng góp cho xã hội một tiếng nói đều rất đáng trân trọng. Vì thế mà tôi tìm ra cái hay của họ giãi bày cùng bạn đọc xa gần. Và cũng vì thế mà tôi được kết bạn với những người viết xa gần trong cả nước". Và anh đã ngộ ra rằng : " Ngẫm như tôi đây ngày xưa không có những cuộc ngao du với những bạn viết đất Thái Nguyên hẳn tôi cũng không có gan cầm bút đến bây giờ. Bạn viết giúp ta nuôi chí bền là vậy." (Trang 9).

     Tất cả 54 bài viết là những trang tư liệu về các nhà thơ nhà văn của các vùng miền trong nước kể cả chuyện "bếp núc văn chương" của chính tác giả là những trang viết sống động thú vị rất cần cho những người muốn tìm hiểu về một góc của nền văn học hiện thời trong và ngoài tỉnh vậy.  

     * Tập thơ "Những ngón tay rỉ máu" của Trương Thứ Bảy cũng do NXB Thanh Niên cấp giấy phép. Sách dày 80 trang 47 bài thơ với minh họa của Mặc Khải Tuân Phạm Cung và nhiều hình ảnh của tác giả. Đây là tác phẩm thứ hai của Bảy nhưng với cố gắng tìm tòi thể hiện tập thơ đã có nhiều nét riêng hơn tập thơ trước.

     Trong tập thơ lần này Bảy thường nhắc đến những cơn SAY cho dù ngoài đời Bảy rất...sợ rượu hay muốn bỏ rượu?

                        " Phố rượu vắng em/ Mồi nào tiễn rượu?" (Phố vắng) đã đạt cái thần của người say cho nên Bảy muốn : " Tôi bám vào mây tìm lối/ Mênh mông biển vắng sóng dậy/ Mấy vần thơ khóc giữa trời khát cháy" (Lang thang II).

Cái cốt lõi xương sống của tập thơ dường như Bảy muốn tuyên ngôn trong bài thơ dùng làm nhan đề cho cả tập thơ. Bài thơ " Những ngón tay rĩ máu". Đó là sự xác tín: "Người đàn ông tuổi...trung niên/ Đi lạc vào giữa thế kỷ/ Quên mang theo hành lý/ Bỗng gặp một rừng thơ/ Những nàng thơ nhảy múa/ Mời mọc...". Dễ hiểu gã đàn ông đó là ai rồi! Và Gã đã: " Quăng mình/ Rơi tõm vào sa mạc/ Găm phải mấy gai xương rồng/ Rĩ máu những đầu ngón tay...". Có lẽ những điều trên theo tôi chưa phải là "mới" dường như cùng một sự vật cái "ngộ" của từng người phải là cơ duyên. Cho nên Bảy " Kêu người chẳng thấy ai/ Chỉ có nắng rát mặt và bỏng cát/ Thơ độc hành/ Cháy!" . Vì thế mà tay người thơ phải "rĩ máu" khác với cái suy nghĩ cũ "Trái tim rĩ máu" chăng?

                            Nước mắt đó là tâm cảm niềm cảm xúc không giới hạn. Huống chi Trương Thứ Bảy đã rất quen thuộc với những tiết tấu nghệ thuật khi Bảy còn học ở trường Sân khấu Điện ảnh TP.HCM. Tập thơ chỉ là "Cung thương rõ máu năm đầu ngón tay" của Bảy nhưng là sự ẩn ý có lúc rưng rức xoáy vào lòng nhau những cung bậc bất ngờ.

     * Tập thơ " Tình khúc mưa" của cây viết nữ Lê Thị Phù Sa sách do NXB Hội Nhà Văn ấn hành gồm 68 trang với 49 bài thơ cũng là tác phẩm thứ hai của Lê Thị Phù Sa. Sách không nằm trong diện tài trợ mà là sự nổ lực của bản thân tác giả. Lê Thị Phù Sa vốn là cô giáo dạy văn cấp II của một trường vùng sâu Bưng Bàng thuộc huyện Tân Châu mới thấy hết cái mê đắm văn chương của một cô giáo. Tập thơ lần này cũng đã cho thấy một cây viết nữ triển vọng của tỉnh với những vần thơ mộc mạc giản dị nhưng cũng hết sức dịu dàng và đằm thắm ghi dấu một bước tiến mới của Lê Thị Phù Sa.

     Mùa thu trong thơ Phù Sa có cái lảng đãng bâng khuâng khi người thơ viết: " Em dắt mùa thu đi/ Loanh quanh chiều phố nhỏ/ Nắng vàng vương trong gió/ Mây ngập ngừng quên trôi/ Em dắt mùa thu rơi/ Trong hương rừng lá thở/ Khúc tình thu thương nhớ/ Chim hót vang yêu đời..." (Trang 46). Cho nên cũng thật dễ dàng đồng cảm với những " Lắt lay nỗi nhớ/ Muộn màng vì yêu" của tác giả. Hãy nghe Phù Sa bộc bạch trong " Lạc đàn": " Từ em/ Lên chốn non ngàn/ Lắt lay nỗi nhớ/ Muộn màng vì yêu/ Xanh xao giọt nắng liêu xiêu/ Sương lam hờ hững/ Lạc chiều phía em..." nhưng cái mơ cái mộng cái hư ảo thường tình của cuộc sống vẫn là tình yêu và đó là tình yêu khi: " Người đi héo lá trăm năm/ Hương xa tình vắng/ Mạch ngầm rong rêu/ Người về lá vỗ tay theo/ Vườn xuân hương sắc/ Thêm yêu nồng nàn!" (Trang 62).

     Những bài thơ chưa hẳn là bứt phá là mới nhưng người đọc vẫn nhận ra một Lê Thị Phù Sa với những ý tứ chân thành sự cố gắng " đãi chữ" để nâng dần bút lực theo mạch cảm xúc: " Chữ nào cho anh?/ Chữ nào cho em?/ Còn trong sâu thẳm/ Để vườn xưa/ Xào xạc/ Vương chút heo may..." (Trang 59) cũng đủ để chúng ta tìm đọc rồi.

     Xin chúc mừng các nhà văn nhà thơ của tỉnh và xin trân trọng giới thiệu đến các bạn yêu văn học gần xa.

Gò Dầu hạ 14/ 10/ 2010.

T. H. V

  

More...

tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Đức Thiện

By



 

NGUYỄN ĐỨC THIỆN VỚI  " KIẾP NGƯỜI XUỐNG XUỐNG LÊN LÊN"

( Đọc tập tiểu thuyết " Kiếp người xuống xuống lên lên" NXB Quân đội Nhân dân ấn hành tháng 8 năm 2010).

* Trần Hoàng Vy.

     Giữa những ngày đang nằm tiếp tục điều trị bệnh tại Bệnh viện Y học Dân tộc tỉnh Tây Ninh nhà văn Nguyễn Đức Thiện đã nhận được tin vui: NXB Quân đội Nhân dân đã ấn hành xong quyển tiểu thuyết " Kiếp người xuống xuống lên lên" của anh.

     Đây là tác phẩm thứ 15 của Nguyễn Đức Thiện sách dày 364 trang giá bìa là 57.000đ phát hành rộng rãi trên toàn quốc.

     Gần một năm ốm đau bệnh tật nhà văn đã tạm ngừng sáng tác. Nhưng các bản thảo của Nguyễn Đức Thiện vẫn thỉnh thoảng xuất hiện trên các trang báo như Văn Nghệ Văn Nghệ Quân đội Văn nghệ Tây Ninh v.v...Và anh hiện đang còn mấy bản thảo nữa đang chờ kế hoạch in ở các nhà xuất bản. Mới đây nghe nói anh đang được Hội VHNT của Tây Ninh tài trợ để in một tập tiểu luận viết về các gương mặt của bạn bè trong lĩnh vực văn học nghệ thuật.

     Nói thêm những điều này để thấy rằng Nguyễn Đức Thiện khi còn khỏe mạnh anh là người viết rất sung sức viết miệt mài và "viết như điên!" song qua các tác phẩm của anh người đọc không hề thấy sự lặp lại hay nhàm chán mà tất cả những trang viết vẫn đầy những chi tiết sáng tạo ngồn ngộn hơi thở của cuộc sống. Cái thiên chức của nhà văn trong anh không hề lên gân thuyết giảng cứ rũ rĩ thấm vào độc giả với những trăn trở những suy tư về một nẻo hướng thiện xóa bỏ cái cũ vươn đến và làm lại cái mới cho dù cuộc sống vốn nhiều gập ghềnh và trắc trở...

     Tiểu thuyết "Kiếp người xuống xuống lên lên" là một tập tiểu thuyết chất chứa những xung đột giữa cũ và mới giữa con người với bao toan tính dục vọng thấp hèn với khát vọng "trở về" vươn tới cái thiện chân chính. Ở đấy bối cảnh không gian thu hẹp ở một địa phương tỉnh lẽ có lúc mở ra...cả nước ngoài (Campuchia) nhưng chỉ là hồi ức...Cái hồi ức ê chề của nhân vật chính lúc bị bán qua Campuchia để từ đó nuôi thù hận. Phải trả thù " con người đã lừa dối mình...". Thấp thoáng trong bức tranh xô bồ hỗn độn giữa những ký ức mù mờ của một người điên "Tôi" nhân vật dẫn truyện cũng là nhân vật Phước Lưu trong tiểu thuyết ông chủ nhà hàng "Xuân Đào" thực chất là một tên ma cô buôn người chúng ta vẫn thấy hiện lên những hình ảnh của "bạn bè" quanh ta với những mưu mô thủ đoạn vặt hoặc bất tài vô tướng...Những hình ảnh của một số người trong bao cấp đã bị tha hóa biến chất tham ô buôn lậu...Và trong những ngỗn ngang của "kiếp người" sớm lên voi sớm xuống chó ấy hình ảnh những cán bộ Công an hiện ra như những bông hoa đẹp mang lại những bình yên cho mọi người cho dù có khi hoàn cảnh của họ cũng có những đau thương mất mát.

     Nguyễn Đức Thiện có cái duyên kể chuyện và... "bịa" chuyện. Chỉ với chi tiết " Bánh tráng phơi sương của xứ Trảng" nhà văn dường như đã xen một "kịch bản" tư liệu về các công đoạn làm bánh tráng. Câu chuyện người vợ vì đểnh đoảng bỏ quên bánh tráng qua đêm bị sương ướt giận chồng la rầy ăn luôn những cái bánh còn ướt sương: " Hồi đó xứ này có một người đàn bà rất đoản làm đâu bỏ đó làm trước quên sau nhà bà làm nghề tráng bánh. Thì cũng là chiếc bánh bình thường như ngoài quê thôi. Bột tráng trên một mảnh vải. Mảnh vải đặt trên nồi nước sôi. Bánh được hấp chín rắc lên đó mấy hạt mè. Gỡ ra mang phơi nắng. Bánh khô mang vào nướng lên than. Thế là xong...Nhưng thật không ngờ còn một liếp bánh phơi khuất sau vườn bà không nhớ tới. Sáng ra chiếc bánh mềm xèo. Bà cuống lên chưa biết làm gì với những chiếc bánh. Bất ngờ chồng bà bắt gặp...Ông chồng gắt gỏng:

     - Có mà mang cho heo ăn.

     Bà vợ không chịu thua:

     -Thì để con heo này ăn nè...

     Bà bốc ngay một chiếc bánh tính ăn cho bõ ghét. Nào dè bà nhìn ôn vẽ ngạc nhiên:

     - Ngon ngon thiệt ông ơi.

     Người chồng trợn mắt không tin. Ông xé một miếng bánh bỏ vô miệng. Vị đậm đà vừa ngọt vừa mặn vừa bùi tan trong miệng..." (Trang 55 56).

     Nghe kể từ chi tiết "Bịa như thật" này mà lắm người xem như một giải thích "thuyết phục" về bánh tráng phơi sương ở Trảng Bàng! Có cô thuyết minh du lịch khi khách hỏi nguồn gốc bánh tráng Trảng Bàng đã kể y nguyên câu chuyện của Nguyễn Đức Thiện đã kể mới...tài!

     Hai mươi hai chương và một đoạn kết. Những lát cắt từ một mẫu tin trên báo mà độc giả lần theo gần hết cuộc đời của cô gái có tên là Diễm cùng với những chấm phá khốc liệt về những "dư vị" mà cô gái đã trải qua: Cuộc đời con gái bị cha dượng đánh đổi bằng...ba xe đất! Bị lừa gạt bán qua biên giới làm điếm. Một cảnh báo rất cụ thể mà đâu đó vẫn còn tồn tại ở đất nước ta. Bị hành hạ bạo lực dã man (Bắt ngủ trong chuồng nuôi heo rừng. Nhốt chung với chó Bergie !). Ý chí trả thù của Diễm khi mà cô chỉ một thân một mình sống trong nanh vuốt kẻ thù - Phước Lưu gã chủ quán Xuân Đào- đã phải trả giá. Cô phải vào viện với thân tàn dại và lòng căm thù. Nhưng khi hồi phục trước những lời khuyên chân tình của những cán bộ Công an: " Chớ em còn có thể về đâu. Về quê đi. Em nhớ chính mình chối bỏ đất quê chớ đất quê chẳng bao giờ chối bỏ mình. Em còn mẹ nữa mà. Nước mắt chảy xuôi Diễm ơi!..." ( trang 306 307).

     Là người dẫn truyện và cũng là nhân vật chính phản diện: Phước Lưu bằng những thủ đoạn và mánh khóe của mình đã mở ra hàng loạt quán "đặc sản" để phục vụ đám khách "thượng đế" ăn chơi phè phởn. Hắn đã phạm " tội ác" từ ngày bỏ nhà trốn đi với Xuân Đào : Đưa vợ đi phá thai "chui" cũng là một cảnh báo của Nguyễn Đức Thiện về viếc làm trái với y đức của một số bác sĩ. Lừa gạt người bán qua biên giới. Dùng vũ lực hành hạ người khác... Lẽ ra y phải trả giá bằng những năm tháng ngồi tù. Nhưng y đã bị điên loạn. Luật pháp chưa kịp đưa y ra tòa thì tòa án lương tâm và luật "nhân quả" đã trừng phạt y... cuối cùng là cái chết do tai nạn xe cộ gây ra cho y...

     364 trang sách không dễ đọc hết một lần vì những số phận bất hạnh được bút pháp Nguyễn Đức Thiện khai thác như những "File" dữ liệu với đầy đủ những chi tiết "tra cứu" kể cả chuyện thời cụ Đặng Văn Trước đi mở cõi vào đất Trảng Bàng hoặc những chi tiết về khu phố "Trần Dư"v.v...Từ từ đọc từ từ ngẫm ngợi: Bạo lực buôn bán người tham ô và cả những dục vọng của con người đã được nhà văn đem ra trước ánh sáng: Ánh sáng của công lý và lương tâm con người. Hình ảnh những cán bộ chiến sĩ công an tuy xuất hiện rất ít nhưng đã làm an tâm mọi người về một cuộc sống bình an trật tự...

Gò Dầu tháng 9/ 2010.

T. H. V

More...

Giới thiệu thơ BẢY THI.

By



 

Bảy Thi ghé quán Thơ Vàm Cỏ cùng đồng điệu với Tứ tuyệt "Đất và nước" gửi lại 4 khúc lục bát thật nhuần nhuyển và cũng đầy tâm trạng. Cái duyên thơ thoáng qua những phút ngẫu hứng nhưng rất  sâu lắng. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn bè gần xa.

I.

Đất chỉ là đất dưới chân

Sinh ra theo Mẹ lần lần bước đi

Đất ơi hỏi đất là gì

Mẹ ơi không đất con đi phương nào?

II.

Rời quê. Đất chẳng mang theo

Chỉ mang theo một cái nghèo dở dang

Ở xa nhớ đất về làng

Không giàu vẫn bước trên đàng đất quê.

III.

Quê nghèo giếng nước lại sâu

Những đêm ngày Hạ tiếng gầu khát khô

Nước ơi biết đến khi mô

Mở vòi... nước chảy tràn xô cái nghèo.

IV.

Nắng ngày cày ruộng ruộng khô

Hỏi trời sao nước nơi mô? Không đều

Vắt đất nên nước được sao?

Thèm cơn nước nổi xứ nào... nước ơi!


BẢY THI

More...

Đọc thơ TRẦN NGỌC TUẤN (Đồng Nai)

By



 

TRẦN NGỌC TUẤN VỚI ÁO TRẦN CÒN VƯỚNG MÙI TỤC LỤY

( Đọc tập thơ Suối Reo của Trần Ngọc Tuấn NXB Hội Nhà Văn 2006)

* Trần Hoàng Vy.

Đẹp trai nhưng hơi... nhỏ con! Luôn sề sệ trên khuôn mặt cái kính cận gọng vàng. Cái anh chàng "Vật giá" K.7 của trường Đại Học Kinh tế trước đây luôn có vóc dáng và phong độ của một doanh nghiệp nhưng ... trời đày thêm cái nghiệp thi phú và gần đây lại "khoái" món Thơ "thiền" hướng niệm đến Bồ đề Pháp Hoa và... cả Phật. Thế mới... "Tùy duyên an trụ/ Tùy nguồn tịnh tâm" để mà " Thuyền xuôi tới bến/ Đường về hoa bay" là cái nét "duyên" mà tôi bắt gặp ở Trần Ngọc Tuấn trong những thời gian "tịnh" và nhập vào với "Suối reo".

Trần Ngọc Tuấn có tạng làm thơ... ngắn. Chỉ bốn câu thôi mà mang mang tâm trạng hỗn mang trong bụi trần và siêu thoát trong chánh niệm hướng đến chân thiện mỹ của cuộc đời.

More...