THƠ HAY Tạ Văn Sỹ

By

 

Nhà thơ Tạ Văn Sỹ Hội viên HNVVN hiện đang sống và viết tại Kontum bài "Thơ hay" dưới đây cũng là một ý kiến khá thú vị của nhà thơ. QTVC xin được trân trọng giới thiệu bài viết của Tạ Văn Sỹ đến các bạn yêu văn chương.

 

* Lời thưa: Một mình giữa rừng buồn sực nghĩ viết chơi. Những “ngẫu hứng” bất chợt này là nằm trong dự định một tập hợp mang chung nhan đề “Ý nghĩ rời” của tôi. Toàn bộ thơ dẫn dưới đây đều chép theo trí nhớ vì không sẵn sách tra cứu. (Có bài đọc và thuộc từ năm 1972). Chỗ nào sai nguyên văn xin chữa lại sau. Tôi thì đang “nhàn” nên thích “đàm” bạn nào rảnh rỗi thì đọc cho vui có gì trao đổi. Cũng là một cách học hỏi lẫn nhau để lấp bớt lỗ hổng tư duy kiến thức của mình. 

Thơ hay có nhiều kiểu. Kiểu dễ thấy nhất là hay toàn bài. Thứ hai là những đoạn thơ hay. Tiếp nữa là có những câu hay. Riêng cái khoảng những từ hay trong thơ thì ít được nhận ra và cũng ít được để ý đến.

Bài hay: Trường hợp này có nhiều khó chứng luận trong một bài tản mạn nhàn đàm. Đại khái: Bài thơ hay là bài được nhiều người cùng thích thuộc được truyền lưu trong dư luận qua thời gian. Thế nào là hay thì xin để cho một bài lý luận văn học. Ở đây chỉ xin thưa: Ngay một bài thơ được nhiều người thích thuộc (tức hay) cũng không hẳn đã là hay tuyệt đối đến từng đoạn từng câu từng chữ một mà nhìn tổng thể chỉ biết là nó… hay! Có bài hay ở tứ có bài hay ở từ. Cũng có trường hợp bài này hay với người này còn bài kia hay với người kia! Nhà thơ Tế Hanh có lần trả lời phỏng vấn trên tạp chí Tác phẩm mới đại ý: Văn chương nghệ thuật là vô cùng nên cái hay cái dở của nó cũng vô cùng! Cứ ngỡ cụ nói cho qua chuyện “ba phải!”! Nhưng ngẫm lại mà xem nó quả là thế thật! Cũng ý ấy Cụ Tú Thành Nam (Trần Tế Xương) trước đây cũng đã “phát biểu” rõ ràng: -“Văn chương đâu phải là đơn thuốc/ Chớ có khuyên xằng chết bỏ bu”!...

Ví dụ bài thơ hay ở cách lập tứ (thơ Nguyễn Bắc Sơn): -“Đêm Phù Cát dẫu ngoài trời rất lạnh/ Nhưng trong ngôi nhà tranh của thi sĩ Hồ Bang/ Có tình bạn nồng nàn như rượu chôn nhiều năm dưới đất/ Có câu chuyện tình thi vị mang mang/ Ta nghĩ đàn bà người nào cũng như người nấy/ Nên một đời ta nhớ nhớ quên quên/ Nhưng lại nghĩ đàn bà đâu phải người nào cũng như người nấy/ Nên một đời ta cứ phải theo em/ Ta nghĩ trời sinh mỗi mình ta là đủ/ Bởi đám đông quấy bẩn nước hồ đời/ Nhưng lại nghĩ trời sinh thêm bè bạn/ Để choàng vai ấm áp cuộc rong chơi/ Dẫu mỗi ngày bóc đi năm mười tờ lịch/ Cũng không làm cho ngày tháng qua nhanh/ Dẫu đen bạc là nơi cố xứ/ Nhưng đi biền biệt cũng không đành”! Còn đây là bài hay ở ngôn từ hình tượng (thơ Hoàng Lộc): -“Ngôi trường bây giờ em theo học/ Mười năm xưa ta cũng đi về/ Ôi mười năm một thằng xuôi ngược/ Những điều trong mộng đã vàng hoe/ Ngày ấy bạn bè hơn trăm đứa/ Mà ta hồ dễ đã thua ai/ Ngày ấy xa trường hơn trăm đứa/ Sao mỗi mình ta lỡ vận hoài/ Ta có yêu đôi người gái đẹp/ Tình như mây một thuở tan rồi/ Và em cũng là… là gái đẹp/ Nên sợ tình ta còn mây trôi/ Em chớ vội cười ta bất nghĩa/ Mười năm không ghé lại thăm trường/ Em cứ chê lòng người dâu bể/ Đâu có hay đời ta tang thương/ Những lúc mơ hồ nghe tiếng gió/ Ta riêng cơn lốc dậy trong hồn/ Em chắc ham vui ngày sách vở/ Đâu có hay vai người gió sương/ Những lúc về ta rơi nước mắt/ Qua trời thị xã cổng trường xưa/ Mười năm đời ta lăn khổ nhọc/ Còn gõ buồn tênh khúc nhặt thưa…”!

Đoạn hay: Là những đoạn ngắn nổi trội lên trong một bài thơ  (dĩ nhiên bài ấy không phải là thơ dở vì thơ dở không thể nào có được đoạn hay). Đây chỉ là khoảng đệm giữa câu hay và bài hay xin để dịp khác “nhàn đàm” tiếp vì ai cũng có thể tìm ra.

Câu hay: Cũng như bài hay câu thơ hay là những câu được người đời truyền tụng nhiều nhất được vận dụng vào bất cứ sự kiện gì thời điểm nào. Nó như “câu cửa miệng” thường ngày. Có khi người ta chỉ nhớ câu thơ mà quên mất nhan đề bài thơ cũng như tên tác giả. Nó là “đột biến gien” trong một bài thơ. Gặp câu thơ hay người đọc dễ nhận ra những câu độn đệm làm đà cho nó bật nảy lên. Câu hay thường thiên về khái luận một cảm nghiệm suy nghiệm chiêm nghiệm nào đó mang tính triết lý châm ngôn. Ví dụ đoạn thơ Phan Khôi; -“Tuổi già thêm bệnh hoạn/ Kháng chiến thấy thừa ta/ Mối sầu như râu tóc/ Cứ cắt lại dài ra”!. Nếu không vì hai câu sau thì vứt hai câu trước đi chẳng tiếc. Nhưng không có cái đà của hai câu trước thì hai câu sau không thể từ lỗ nẻ chui lên được! Hoặc như thơ xua bây giờ mấy ai còn nhớ cả bài nhưng: -“Giai nhân tự cổ như khanh tướng/ Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu” (Xưa nay người đẹp như danh tướng/ Đâu để nhân gian thấy bạc đầu) thì còn lưu mãi… Có thể ví câu hay giống như phần gọi là “Thơ” trong một bài Hát nói giữa hai Mưỡu. Những câu khác trong bài chỉ để “nói” (tức hát) hai câu này mới là điểm chốt tóm thâu toàn bộ thần khí của bài.

Từ hay: Trường hợp này hiếm hoi hơn nhưng không phải không có. Nó thường rơi vào tay các văn tài thực thụ có tố chất của bậc “hùng bút” kiểu “Tuổi chưa bao nhiêu văn rất hùng” (Tản Đà) có tầm xúc cảm “đạt đỉnh” khi ý thức và ngay cả trong những phút giây xuất thần vô thức. “Vô thức” này không có nghĩa không ý thức mà vì là tài năng bẩm sinh nên nó nghiễm nhiên có sẵn đâu đó trong thẳm sâu cảm xúc sáng tạo rồi bất ngờ gặp dịp thì vụt lóe lên thôi! Đôi khi nó vụt nảy ra trước khi tác giả kịp chọn lựa hay nghĩ đến nữa kia! Xin vài ví dụ: Bài Tống biệt của Tản Đà: -“Lá đào rơi rắc lối thiên thai/ Suối tiễn oanh đưa những ngậm ngùi/ Nửa năm tiên cảnh/ Một bước trần ai/ Ước cũ duyên thừa có thế thôi/ Đá mòn/ Rêu nhạt/ Nước chảy/ Huê trôi/ Cái hạc bay lên vút tận trời/ Trời đất từ đây xa cách mãi/ Cửa động/ Đầu non/ Đường lối cũ/ Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi”! Từ “Chơi” hạ xuống “nhẹ như lông hồng” mà gợi mở ra mênh mang một nỗi tiếc nuối hụt hẫng chơi vơi buồn thăm thẳm giữa cõi trống không trời đất tiêu sái phiêu bồng khi kẻ tiên người tục mãi mãi biệt ly. Bài Đêm Thu cũng của Tản Đà: -“Đêm Thu buồn lắm chị Hằng ơi/ Trần thế em nay chán nữa rồi/ Tiên cảnh đã ai ngồi đó chửa/ Cành đa xin chị nhấc lên chơi/ Có bầu có bạn can chi tủi/ Cùng gió cùng mây thế mới vui/ Rồi cứ mỗi năm rằm tháng Tám/ Cùng nhau trông xuống thế gian cười”! Dừng lại ở từ “cười” mà xem. Dường như thoáng một nét xếch môi trong cái cười vừa hiu hắt vừa kiêu mạn của kẻ mệt mỏi chán chường khinh thế ngạo vật cõi trần gian ô trọc. Bài Nguyệt cầm của Xuân Diệu: -“Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh/ Trăng thương trăng nhớ hỡi trăng ngần/ Đàn buồn đàn lặng ôi đàn chậm/ Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân/ Thu rộng càng thêm nguyệt tỏ ngời/ Đàn ghê như nước – lạnh – trời ơi/ Long lanh tiếng sỏi vang vang hận/ Trăng nhớ Tầm Dương nhạc nhớ người…”! Chạm phải từ “lạnh” bỗng giật thột mình vì cảm giác… sởn gai ốc lạnh cả người! Đồng Đức Bốn có câu: -“Đừng buông giọt mắt xuống sông/ Anh về dẫu có đò không cũng chìm”! “Giọt mắt” là từ sáng tạo tuyệt vời của tác giả xin sẽ nói vào dịp khác chỉ xin để ý từ “chìm” là từ có sẵn bình thường thôi nhưng vào đây thì nó đã thành từ “thần” từ hay! Thôi em quay mặt đi đừng buông cái “giọt mắt” ấy theo anh để đến nỗi không khéo đò ngang sẽ chìm mất vì khẳm nặng nỗi niềm nhớ thương vương vấn đang chất chứa trong lòng anh đây này! Đoạn thơ Trần Dzạ Từ: -“Lần đầu ta ghé môi hôn/ Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang”! Ve biết gì mà “hết hồn” chính “anh” và “ả” tuổi học trò mới “hết hồn” trong cơn rung cảm đầu đời giữa nụ hôn chia tay mùa hạ đấy chứ!

Chuyện thơ hay thơ dở là “truyện dài kỳ”. Làm được bài thơ (hay) đã khó đọc thơ càng khó hơn. Đây chỉ là một ít ngẫu hứng khi bất ngờ nhớ lại những dòng thơ mình yêu thích. Còn nhiều lắm xin hẹn dịp trở lại nữa.

TẠ VĂN SỸ

More...

BẠN BÈ "CHUNG VỐN"

By

 

QTVC XIN CÁM ƠN BẠN BÈ THÂN HỮU ĐÃ “CHUNG VỐN” TRONG NGÀY KỶ NIỆM “ SÁU MƯƠI NĂM CUỘC ĐỜI” CỦA THV. XIN GIỚI THIỆU ĐỂ CÙNG CHIA SẺ.

 TẶNG TRẦN HOÀNG VY

 sáu nhân mười tuổi bạn tôi
mười nhân sáu gặp thảnh thơi thanh nhàn
thơ tình chữ dọc ý ngang
tình người bút mực xếp hàng đục trong
chữ rằng: "sắc bất thị không"
bạn tôi không có - có không vẫn cười!?
mười nhân sáu tuổi bạn ơi!
phải chăng vàng-đá khóc cười dần quên?
tập tành bước khỏi bon chen
để không quen lạ- lạ quen!
mìm cười.

 

VŨ MIÊN THẢO

 

Mừng thọ anh:

Sáu mươi tuổi chẳn hãy còn xuân
Trai tráng an nhiên mới lục tuần.
Lên non xuống biển khinh khổ ải
Vượt dốc băng sông chấp gian truân.
Hạ bút thành thơ tình nhân ái
Vung tay hoá nhạc nghĩa phu quân.
Tây Ninh sông núi neo đời lại
Hồn trải muôn phương với nhân quần

Dzu- htt

 

More...

SINH NHẬT SÁU MƯƠI thơ Trần Hoàng Vy

By

 

Sáu mươi tuổi vẫn hồn nhiên

“Lên bờ xuống ruộng”… chẳng riêng một mình

Gửi vào xanh thẳm chữ tình

Một hôm bất chợt hỏi mình là ai?

 

Sáu mươi tuổi vẫn trẻ trai

Mượn thơ nhập cõi trần ai để cười

Ngộ ra mình vẫn là người

Rong chơi dương thế cạn hơi rồi về

 

Sáu mươi tuổi trót hẹn thề…

Làm mây viễn xứ vụng về đường bay

Rượu lưng lửng nhấp mà say

Tìm chân hư chạm những ngày sắc không!

 

Quanh mình bè bạn còn đông

Biết mai sau lúa ngoài đồng có xanh?

Tìm non hỏi nước ghi danh

Học trong cây lá để dành muôn sau…

 

15. 05. 2011

 

TRẦN HOÀNG VY.

CÁM ƠN BẠN BÈ THÂN HỮU ĐÃ VÀO CHIA SẺ. QTVC XIN GIỚI THIỆU 2 BÀI THƠ CỦA NGUYỄN ĐỨC THIỆN VÀ BẢY THI.

THƠ MỪNG TRẦN HOÀNG VY TUỔI SÁU MƯƠI

Ừ thì nay đã sáu mươi
Vẫn còn tung tẩy ròn cười khi say
Vẫn mạnh mẽ giữa trời này
Thơ còn quyến rũ làm say lòng người
Còn ham mê giữa dòng đời
Bút còn sắc nhọn thả lời yêu thương
Vẫn còn thăm thẳm dặm đường
Đất trời vần vũ muôn phương tràn về
Mà nên dòng chữ say mê
Cho người được sống thỏa thê với đời
Ừ thì mình đã sáu mươi...

NGUYỄN ĐỨC THIỆN

THƠ CHÚC MỪNG

Mới ba lần gấp đôi mươi
Ba chàng trai trẻ trong người chớ bao
Dồn mây gió cộng trăng sao
Lặng thinh ém với xôn xao ắp tình

Thuở yêu còn mới rập rình
Vẫn còn giữ mãi trong mình đó thôi
Ngộ ra trong cõi làm người
Thời gian làm choái cho đời vươn xa

Bao năm sỏi đá vấp va
Bước chân cõi thế cuốn ra dội vào
Hẹn thề gửi những phương nao
Cầm duyên tay gửi tay trao bao tình

Bạn bè rộn rịp quanh mình
Rượu bia tí tách lung linh men nồng
Say rồi tỉnh giữa sắc không
Tỉnh rồi say giữa long đong cuộc người

Mai ngày theo gió rong chơi
Gọi năm gọi tháng gọi đời cho vui
Non non nước nước ngậm ngùi
Lá xanh kéo gió hồn người níu thơ

Dòng sông đò dọc bến bờ
Đời con đò đó cứ chờ bến sau
Bờ đời vẫy những bông lau
Trắng trong như thế phau phau ngút ngàn

Buông câu hò giữa nhân gian
Hò ơi sáu chục vẫn tràn cung mây!

BẢY THI

 

More...

chùm thơ thiếu nhi VÀO HẠ

By

 

1/

Tiếng ve góp lửa phượng hồng

Trời xanh bỗng chốc oi nồng. Hạt mưa

Học kỳ đã cuối vui chưa?

Mà con mắt ướt. Bạn vừa… bỏ thi!..

 

2/

Sấm dội con vạt sành giật mình

Mài đôi cánh tiếng xé màn đêm thẳm

Con đom đóm bật quẹt gọi ánh sáng

Bé nằm lo trái mít rụng thình lình…

 

3/

Hương gì lạ…run run

Thở vào đêm mảnh khảnh

Dường như sương… hoa lạnh

Nép tán khuya ngại ngần

 

Từng cánh hoa li ti

Ôm trắng cành bố mẹ

Tên hoa là Nguyệt quế

Vừa xuống đất hương đi…

 

4/

Mới vào hạ. Hạt mưa hạt nắng

Gọi cỏ xanh rền tiếng dế

Đêm oi ả giọt đàn ve

Rả rích mưa trên mái lá

 

Một đồng quê đầy ắp hạ

Tràn ngày mắt tím mọng trâm

Trái chòi mòi óng ả

Con cá rô non mơ ngày hội trong đầm

 

Em mùa hạ bơi ngữa trên sông

Học viết bài ca dao mây trời

Bì bỏm lội bùn theo dấu cá

Hát cùng hạt lúa trẩy bông…

 

2011

TRẦN HOÀNG VY

 

More...

MÙA PHƯỢNG

By

 

Mùa dậy thì xanh những búp tơ

Nghe từng giọt lá mưa lơ thơ

Nắng con gái chớm ngày hoa đỏ

Trang vở nghiêng về phía ước mơ!

 

Vậy đó mà ngày xanh ánh mắt

Mà ngày vương sợi tóc học trò

(Áo xưa sương khói mùa phơ phất

Ngày phượng bừng hoa đôi mắt to…)

 

Đâu dễ mà quên mùa bướm phượng

Năm cuối học trò ngày ngẩn ngơ

Rồi xa… xa lớp xa bè bạn

Ẩn số vừa nhen trong tim thơ.

 

Thoáng nhẹ nhàng rạo rực chút mưa

Cánh hoa đỏ lặng thầm ai nhớ?

Mùa thi gọi. Tiếng ve than thở

Sợi nắng mềm đi qua lối xưa!

 

Mùa ấy nhiều năm chìm lãng quên?

(Ngày mỗi lớn càng xa mùa phượng)

Bỗng hôm lục lại nhiều năm trước

Cháy hết vô tình. Phượng đỏ lên…

 

TRẦN HOÀNG VY

 

 

 

More...

CHỮ BẦU LÊN NHÀ THƠ Hoàng Chiến Thắng

By

Văn NGhệ Tiền Giang số 39 có bài "Chữ Bầu lên nhà thơ" của Hoàng Chiến Thắng QTVC mạn phép post lại bài viết để các bạn cùng đọc.

 

 

Ngôn ngữ giao tiếp khác với ngôn ngữ thơ ca. Cũng như chữ viết trong một vài trường hợp nhất định không còn là “chữ” theo cách hiểu thông thường. Vậy cái sự bất bình thường ấy của con chữ nằm ở đâu? Chẳng đâu cả bởi bản thân nó vốn dĩ đã là chữ rồi. Như vậy thì mâu thuẫn quá! Đúng rất mâu thuẫn tuy nhiên “chữ” ở đây trong câu nói của nhà thơ Lê Đạt ta nên hiểu là “chữ” của sự sáng tạo “chữ” của văn chương.

Nhà thơ là người cày ải trên cánh đồng chữ trong quá trình miệt mài kiếm tìm ý tưởng họ đồng thời sáng tạo ra nó hay chỉ đơn giản là lựa chọn trong triệu triệu ngôn từ để diễn đạt ý bài thơ mà họ đã lập tứ từ trước. Nếu vậy chẳng hóa ra chữ chỉ là phương tiện truyền tải sao? Nếu suy xét theo khía cạnh này ta thấy hình như không được công bằng cho lắm. Bởi một nhẽ phàm là “chữ” của văn chương của thi ca thì trước nhất đó phải là chữ của sự sáng tạo nghệ thuật. Theo như nhà thơ Lê Đạt thì “văn và ý ngang nhau cũng có thể ý có trước hoặc văn có trước nếu ý đến trước thì phải tiếp nhận nó và nếu chữ đến trước thì phải mở cửa mời nó vào không được đuổi nó đi. Nhà thơ phải lễ phép với chữ. Nhà thơ quan liêu với chữ là nhà thơ vứt đi”. Từ sự san sẻ ấy ta thấy vai trò của chữ với nhà thơ quả không nhỏ. Sẽ chẳng có nhà thơ nếu không có “chữ” của sự sáng tạo đó là thành tố quyết định thành bại tác phẩm của nhà thơ. Và hiển nhiên từ lập luận ấy ta có một hiện thực không thể phủ định đó là “Chữ bầu lên nhà thơ” theo cách nói của nhà thơ Lê Đạt. Và như vậy nhà thơ trước hết phải là phu chữ là người cần mẫn không chỉ kiếm tìm trên cánh đồng ngôn từ mà còn phải biết gieo mầm nó. Nên chẳng phải ngẫu nhiên mà Maiakôpxki nói “Lấy một chữ phải mất hàng tấn quặng ngôn từ” sàng lọc và lựa chọn là công việc của nhà thơ. Họ đãi chữ để tìm ra những từ đắc địa cho bài thơ của mình. Sẽ chẳng có bài thơ hay nếu câu chữ vụng về và như vậy chỉ vì lười biếng trong tìm kiếm sử dụng ngôn từ mà người viết đã làm chết ý chết tứ của cả bài thơ và dĩ nhiên anh sẽ chẳng thể là nhà thơ khi sản phẩm của anh là những bài thơ dở.

Nhà thơ Valéry của Pháp từng nói: “Thượng đế bao giờ cũng miễn phí cho nhà thơ câu thứ nhất” - “Để khuyến khích anh ta tiếp tục câu thứ hai đừng xoàng quá”. Còn nhà thơ Lê Đạt thì nhận định: Những câu thơ hay thường là sản phẩm của công ty hợp doanh giữa thượng đế và phu chữ. Nhà thơ phải suốt đời cần cù chữ. Phải có sự trao đổi giữa chữ và nhà thơ nhà thơ với chữ nhà thơ phải dân chủ với chữ phải để chữ có quyền dân chủ và tham dự cuộc bầu cử.

Rõ ràng chữ đã bầu lên nhà thơ. Và như vậy cũng thấy được sự đòi hỏi của chữ với người sáng tạo ra nó. Và tất nhiên cái sự đòi hỏi ấy là chính đáng. Muốn có những câu thơ hay bài thơ hay phải có những từ đắc địa như vậy ý và tứ của bài thơ mới chỉ làm được năm mươi phần trăm điều đó. Năm mươi phần trăm còn lại là gì? Đến đây ai cũng có thể trả lời được. Nhưng làm thế nào để có năm mươi phần trăm ấy? Theo như tâm niệm của nhà thơ Lê Đạt thì trước nhất “Nhà thơ phải nhọc mệt phải là phu chữ. Chữ bầu lên nhà thơ”. Làm được điều này anh sẽ là một nhà thơ. Chỉ khi vậy người đọc mới thấy được sự giao thoa giữa nghĩa và chữ bởi nó chỉ được phác thảo mờ khuất sau bóng chữ. Điều đó khiến bài thơ hay hơn lên lấp lánh hơn lên và dĩ nhiên người viết sẽ là nhà thơ thực sự. Câu thơ có nghĩa là câu thơ hay điều này chỉ đúng trong một vài trường hợp nhất định. Câu thơ hay hiển nhiên phải là câu thơ có nghĩa nhưng như vậy mới chỉ là điều kiện cần chưa phải là đủ. Do vậy câu thơ hay cần khẳng định thêm phải là câu thơ lấp lánh cái sự lấp lánh ấy là sự lấp lánh bởi những từ đắc địa nó khác với cái lấp lánh của những câu chữ sáo rỗng xủng xoảng. Cái lấp lánh của những câu chữ xủng xoảng là cái lấp lánh bề ngoài nông cạn thậm chí làm rối nghĩa tối nghĩa. Khi nhà thơ cần mẫn với chữ thì sẽ có sự lựa chọn phù hợp nhất để diễn đạt ý cần nói. Ngôn ngữ thường được nhận định là vỏ bọc của tư duy người viết biết dung hòa hai yếu tố đó để phục vụ cho ý tưởng của mình nó sẽ đẩy cao được hơn lên giá trị của tác phẩm ý đồ nghệ thuật và tư tưởng của nhà thơ cài cắm trong đó. Nhà thơ thổi hồn vào tác phẩm thông qua ngôn ngữ thơ ca và tất yếu phải dựa vào chữ điều đó cho ta thấy “Chữ bầu lên nhà thơ” là một mệnh đề luôn luôn đúng.

Bài thơ hay đôi khi chỉ vì một câu thơ hay một câu thơ hay khi có từ đắc địa. Dùng từ đắc địa làm lấp lánh cả ý cả tứ cũng như cảm xúc của nhà thơ. Từ đắc địa thực sự chỉ được nhận diện khi nhà thơ không thể thay thế được nó bằng một từ nào khác. Để làm được điều này đòi hỏi người viết phải cần mẫn tìm tòi sáng tạo. Giữa ngút ngàn ngôn từ ấy làm sao người viết có thể nhận diện được đâu là từ đắc địa điều này càng khẳng định cái sự vất vả của nhà thơ nhưng phàm là nhà thơ nhất thiết anh phải làm được điều đó. Ngoài những bài thơ hay thảng hoặc độc giả cũng bắt gặp những câu thơ đắc địa. Để có câu thơ đắc địa đòi hỏi người viết phải có vốn ngôn từ phong phú vốn sống dồi dào và hơn cả phải là một tri thức thực sự. Ví như câu thơ “Mưa rơi không cần phiên dịch” của nhà thơ Trần Dần là một câu thơ đắc địa điển hình. Hay bài “Bóng chữ” của Lê Đạt “Người về” của Hoàng Hưng…

Ta thử thay thế từ “đắc địa” trong một vài câu thơ hay sẽ thấy ngay được vai trò của chữ ví dụ như : Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang/ Hoa cười ngọc thốt đoan trang. Trong đoạn tả vẻ đẹp Thúy Vân Nguyễn Du đã rất tài tình và công phu trong việc dụng từ. Nếu thử thay từ “thốt” bằng một từ khác chúng ta sẽ thấy câu thơ bị giảm nghĩa rất nhiều thậm chí là vô duyên tối nghĩa. Trong trường hợp này thì không thể có từ nào thay thế nổi. Hay như trong bài “Bóng chữ” của Lê Đạt chúng ta sẽ thấy khả năng dụng từ của nhà thơ. Bài thơ rất kiệm lời và đặc biệt là câu cuối của bài làm người đọc ngẩn người thán phục: Chiều âu lâu/ bóng chữ động chân cầu.bóng chữ” nếu ta thay bằng “bóng người” thì sao nhỉ? Hay như: Đừng buông giọt mắt xuống sông/ Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm (Đồng Đức Bốn). Nếu thay “giọt mắt” bằng “ánh mắt” thì câu thơ chỉ ở vào mức độ trung bình khá.

Ngôn ngữ trong văn học là ngôn ngữ mang tính cá thể cao độ thuộc về từng tác phẩm tác giả do đó luôn đòi hỏi người viết phải nhận định được ngôn từ cần sử dụng. Và tất yếu mỗi người viết mỗi nhà thơ đều cần có một hệ từ vựng riêng biệt. Sự nhặt nhạnh ngôn từ không chỉ giúp nhà thơ có vốn từ phong phú mà còn giúp cho nhà thơ dễ có nhận định về nó trong mỗi tác phẩm.

Người viết chỉ trở thành nhà thơ khi họ biết sử dụng đúng chỗ đúng lúc những ngôn từ trong vốn từ vựng hỗn độn của mình. Nên có thể khẳng định “Chữ bầu lên nhà thơ” là một mệnh đề đích đáng.

Hoàng Chiến Thắng (Theo Văn nghệ TG số 39)

 

More...

sự giao lưu kết hợp thú vị của ngôn ngữ tiếng Việt

By

 

Ngôn ngữ tiếng Việt giàu và đẹp điều đó ai cũng học qua. Ngôn ngữ tiếng Việt lại phong phú giàu bản sắc địa phương. Khi có người cất lên giọng nói ta có thể phân biệt được đó là người miền Bắc miền Nam hay miền Trung. Mỗi vùng miền lại có những thổ ngữ phương ngữ riêng nếu không là người “từng trải” đi nhiều khó mà hiểu được người đó muốn nói gì. Ví dụ “ Nỏ” “tra” “ trốt” ( từ miền Trung: không già đầu)…Song hầu hết là thống nhất và hiểu được qua giao tiếp. Việc khai hoang mở cõi của cha ông xưa một bộ phận cư dân từ miền Bắc miền Trung vào khai phá mảnh đất phía Nam ngôn ngữ âm sắc được giao lưu kết hợp thành tiếng nói chung của cả dân tộc nhưng vẫn có những kết hợp rất thú vị và khó giải thích sau:

* Để chỉ con vật nuôi mỏ nhọn tai lớn ăn tạp tiếng kêu eng éc ủn ỉn người miền Bắc gọi là CON LỢN người miền Trung miền Nam gọi là CON HEO. Nhưng để chỉ một loại bánh ở miền Nam tất cả đều gọi là bánh DA LỢN ( không gọi bánh da heo!) hay “ Nói toạc móng Heo” ( không nói  “ Nói toạc móng LỢN” ?) kể các miền.

* Chỉ “hoa” ( miền Bắc) “bông” (miền Nam) ví như “Bông huệ” “Hoa huệ” nhưng khi đếm theo thứ tự ít người nói “ Một hoa hai hoa…” mà phải kèm từ “bông” ở trước như “ Một bông hoa hai bông hoa ba bông hoa…”

* Miền Bắc gọi “Buồng” miền Nam nói “Phòng” nhưng khi viết thì “Buồng The” ít ai viết “Phòng the”. Hay “Phòng thuế” chẳng ai gọi “ Buồng thuế”!

* “Gọi” ( Miền Bắc) “kêu” (Miền Nam) nhưng khi dùng để mời gọi nhiều người thì lại nói là “Kêu gọi… trở về…”.

* “ Cây bút trẻ…” và “Cây viết trẻ…” thì cũng như nhau nhưng “ Viết văn” chẳng ai nói “ Bút văn” kể cũng lạ!

* “Làm thuê” “Làm mướn” thường hay kết hợp “ Thuê mướn nhân công…”

* “ Chè chén” “ Nhậu” là những từ…”đặc sản” của hai miền Nam Bắc nhưng khi nói kết hợp với từ “Ăn” thì chỉ có “Ăn nhậu” chứ không có “Ăn… chè chén!” song “Chè chén say sưa” và “ Nhậu say sưa” thì vẫn ổn.

* Tại sao gọi “ Quạ ô Gà ô Ngựa ô…” được mà không gọi “ Mèo ô Heo ô Chó ô…” nhiều người nước ngoài học tiếng Việt thắc mắc? Hay như “Mèo mun” thì phải “Chó mực”.

* “To” và “Lớn” ý nghĩa cũng không khác gì nhau nhưng nói thì “Người ta lớn lên” chứ không nói “Người ta to lên”! Tương tự “ To tiếng” “ Lớn giọng” “Lớn họng” thì đối tượng phía sau hoặc trước đó cần phải biết là ai chứ không dễ gây phiền lắm!

Còn nhiều nữa những thú vị trong kết hợp ngôn ngữ vùng miền thiếu hiểu biết thiếu kinh nghiệm từng trải sẽ trở thành… ngớ ngẩn khi không biết sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt của đất nước mình…

 

NGUYỄN SÔNG TRÀ

 

More...

THƠ T.H.V

By

 

* Tôi đếm tuổi tôi mấy mùa phượng cháy

   Giọt mưa hè tắt bớt lửa thanh xuân!

 

* Nến vắt kiệt mình cho ánh sáng

   Mẹ vắt kiệt đời mình cho con…

 

* Với chung quanh mười lăm năm quay về thành người xa lạ

   Với mẹ hiền suốt kiếp vẫn là con .

 

* Mỗi giọt mưa đều có riêng cảm xúc

   Vui buồn hờn giận… bởi thân ta!

 

* Bỗng nghe chim vịt kêu chiều

   Hồn luống cuống ngập ngừng bên bến lạ…

 

TRẦN HOÀNG VY.

More...

hỏi chuyện thơ hay với nhà thơ NGUYỄN VŨ TIỀM

By

* NHÀ THƠ NGUYỄN VŨ TIỀM (TRÁI) VÀ THV.

 

 

 

Dự trại viết của Hội NVVN lần này tại Đà Lạt (tháng 3/2011) tôi may mắn được ở cùng phòng với nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm tác giả của nhiều tập thơ đặc biệt là tập sách nghiên cứu chọn lọc “ Nghìn câu thơ tài hoa” và trường ca Văn đàn bi tráng được nhiều người ưa thích tìm đọc.

Nguyễn Vũ Tiềm đã vượt qua lứa tuổi “Xưa nay hiếm” ( anh sinh năm 1940 tại Gia Lâm Hà Nội) song dáng vẽ vẫn còn “ phong độ” và tráng kiện lắm cao trên một mét bảy lúc nào cũng tinh tươm trong bộ vét màu xám nhạt sử dụng Laptop khá thành thạo. Quan niệm và tiêu chí của anh về thơ phải là “thơ hay” thơ “thứ thiệt”!

Chợt nhớ những câu thơ trong Văn Đàn bi tráng dường như anh đang soi rọi lại chính mình: “ Tôi ngốn hơi bị nhiều tác phẩm đặt hàng gia công/ Văn hợp đồng khuyến mãi/ Thi phẩm cổ đông/ Bình văn cổ phiếu/ Thơ mỹ nhân kế suýt chết chìm mấy phen…” và đó là những hư đốn của thứ văn chương thứ cấp tầm thường mạ vàng phủ dụ những non nớt của suy nghĩ và của ngòi bút: “ Cười câu thơ giả dối/ Khóc câu văn lý tài”. Mặc dù anh có những bài thơ câu thơ thuộc hàng “cao thủ” có nhiều người tâm đắc. Ví như bài tứ tuyệt mang tên “Bão” : “ Gẫy lái đứt neo tàu thoát qua rốn bão/ Anh nguyên lành về lại căn phòng em/ Bỗng gặp cơn bão nhà không triều không sóng/ Chiến hạm đời anh lặng lẽ cất neo. Chìm”. Có lẽ chính vì vậy mà anh muốn luôn tìm tòi phát hiện săn đuổi những câu thơ tài hoa?

Hỏi : “ Anh nghĩ gì về những bài thơ những tác phẩm của anh được in từ “ Nữ hoàng trái cây” (1987) “Chia tay võ sĩ dế” ( 1988)… cho đến nay?”. Anh thật lòng khẳng khái trả lời : “ Từ khi có thời giờ nghiên cứu sâu về thơ và thi pháp của nhiều tác giả trong nước và thế giới tôi nhận thấy… gần ¾  tác phẩm của tôi là…vứt đi vì sự dễ dãi đơn điệu và không tài hoa!”.

Vậy tài hoa của một câu thơ một bài thơ hay nói cụ thể một bài thơ hay là gì? Nguyễn Vũ Tiềm chợt cười cái cười hồn hậu của bậc trí nhân : “ Đọc để V. tự suy nghĩ nhá? Khác thường đột biến bất ngờ/ Đến ngã ba ấy hỏi thơ chỗ nào?..”

Cái ngã ba của Khác thường- của Đột biến- của Bất ngờ ư? Đấy là yêu cầu của thơ tài hoa của thơ hay. Có lẽ nhiều người làm thơ ngày nay ít có người để ý đến những điều này. Làm theo cảm hứng theo sự tuôn trào của mạch cảm xúc. Thơ có tình nhưng thiếu “lý trí” cần thiết. Đọc như nước tuôn trên phiến lá mềm ẻo lả nhưng chưa và không để lại một ấn tượng gì!

Cuộc bàn bạc thơ nói chính xác hơn là tôi đang nghe đang học từ Nguyễn Vũ Tiềm có khi kéo vào lúc 11 12 giờ đêm khi cả hai đang khắc khoải vì một tứ thơ một câu thơ vừa chớm. Nguyễn Vũ Tiềm cho tôi biết anh đã rút tỉa và đúc kết được qua hàng ngàn câu thơ tài hoa thành một quy tắc cho mình khi sáng tác đó là X.S.C và anh lý giải:

X tức là Xúc cảm một yếu tố không thể thiếu trong sáng tác nhưng xúc cảm phải thật độ chín muồi đòi hỏi phải giải tỏa ra ngòi viết trên bàn phím. Lúc đó hãy ngồi để viết.

S là Suy nghĩ nhưng suy nghĩ phải “khác thường” tức là nghĩ đến điều mà người ta chưa nghĩ và không ai nghĩ. Thơ phải hướng đến một suy nghĩ mới lạ không trùng lắp…

Còn C là gì ? Đấy chính là “ cách nói khác thường”  khác thường đôi khi tưởng chừng là cách nói vô lý nhưng lại hoàn toàn hợp lý về mặt triết luận. Điều này sẽ để lại dấu ấn đặc biệt cho người đọc khi tiếp nhận những câu thơ  có cách nói khác thường này. Để minh họa nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm đọc luôn hai câu thơ “ Tôi kinh doanh thường xuyên có lãi/ Nhưng ngẫm ra lỗ cả một đời”. Một cách phản biện gây dấu ấn ở cái ý “ có lãi” nhưng lại “ Lỗ cả một đời” vì sao như thế? Người đọc sẽ băn khoăn suy diễn và tìm cho mình cái ẩn số mà nhà thơ muốn thông báo. Tất nhiên điều này lại tùy thuộc vào trình độ kiến thức và bề dày kinh nghiệm của từng đọc giả.

Tư duy thơ bao gồm từ ngôn ngữ hình tượng đến liên tưởng. Để chọn ra một từ ngữ hay hình ảnh thơ cần phải “rèn luyện” nhiều cho tư duy. Dễ dãi hời hợt tư duy cũng sẽ cho ra những câu thơ dễ dãi hời hợt. Càng đắm sâu chiêm nghiệm sẽ có những hình ảnh mà sức liên tưởng sẽ hướng đến những vi diệu tinh ảo của trí tuệ của thơ… Có lẽ chính vì vậy làm được những câu thơ ưng ý người làm thơ phải lao tâm khổ tứ ghê lắm. Hai câu thơ sau của nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm đã thể hiện điều đó: “ Nhiều lá phiếu giọt mưa ào ào thả xuống/ Bầu cho nỗi buồn vừa ứng cử vào tôi”.

Thơ là gì? Và Thơ hay là gì? Từ xưa đến nay đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau. Cũng giống như nấu một món ăn nhiều người có những kinh nghiệm và bí kíp khác nhau. Song có một thống nhất chung: Ấn tượng được nhiều người ưa thích. Quan trọng hơn là tồn tại với thời gian. Thơ hay thơ tài hoa nói cho cùng cũng như một món ăn “tinh thần” cũng cần có ấn tượng nhiều người thích và sống cùng với thời gian không bị “chìm nghĩm” “bặt vô âm tín” sau vài lần xuất hiện.

Những trao đổi nhiều khi ngẫu hứng bất chợt có khi không đầu không cuối tôi chắp nối lại gia công để có đầu có đũa hy vọng giúp chút gì chăng cho những người muốn tìm hiểu bếp núc của nghiệp văn chương?..

 

Đà Lạt – Tây Ninh tháng 4/ 2011.

 

T. H. V.

 

More...

PHIU* LINH THƠ PHẠM VĂN HẠNG

By

* ĐIÊU KHẮC GIA PHẠM VĂN HẠNG

*BÌA TẬP THƠ VÀ BẢN THẢO VIẾT TAY

* THV NÓI CHUYỆN CÙNG PVH.

Nhắc đến nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng sách báo trong Nam ngòai Bắc và cả ở nước ngòai đã viết khá nhiều về ông. “Sản phẩm chiến tranh” một “bức họa” độc nhất vô nhị bằng các chất liệu dây kẽm gai vỏ đầu đạn một ít cơ thể của con người bị tử nạn vì bom đạn…đã làm rung động cả miền Nam trước năm 1975 tên tuổi Phạm Văn Hạng xuất hiện như một con người “kỳ dị” “phản chiến”!

Sau ngày hòa bình thống nhất nước nhà Phạm Văn Hạng là một nhà điêu khắc tài ba các công trình nghệ thuật của ông có mặt nhiều nơi trên đất nước để lại một dấu ấn khó quên trong lòng những người yêu nghệ thuật điêu khắc. Hàng lọat các công trình tượng đài của ông đã đóng đinh tên tuổi của ông vào trang vàng của làng điêu khắc. Tượng đài Mẹ Dũng sĩ tác phẩm nghệ thuật đầu tiên tại Việt Nam được khắc họa từ vỏ đạn đồng làm nên hình ảnh Mẹ Quảng Nam- Đà Nẵng anh hùng được dựng lên ở cửa ngỏ thành phố Đà Nẵng quê hương ông là một ví dụ hay như tượng đài Nhà đày Lao Bảo mang tính huyền sử của một dân tộc bị đọa đày trong xiềng xích ngọai bang lấy hình tượng từ một ý thơ của Tố Hữu đã làm mọi người xúc động. Các công trình tượng đài điêu khắc của ông còn nhiều nhiều lắm. Chỉ cần nhắc thêm hai vườn tượng của ông tại thành phố Đà Nẵng và Đà Lạt đủ để thấy cả cuộc đời ông đã gắn liền với…đồng đất đá của nghệ thuật điêu khắc biết dường nào. Chung quanh Phạm Văn Hạng cũng có rất nhiều giai thọai. Ông tự nhận mình là… “con quỷ” những người gắn bó gần gũi yêu mến ông thì gọi trìu mến là “ Con quỷ thánh thiện…biết điêu khắc”.

Lan man nhiều như thế để thấy… tham vọng viết và hiểu về ông thật là không dễ nhất là trong lĩnh vực Thơ ca mà Phạm Văn Hạng đã tự nhận mình chỉ mới “ Tập tễnh làm thơ” cho dù ông “tập tễnh” từ  những năm 70 của thề kỷ trước!

 

“Gia tài” thơ của Phạm Văn Hạng cho đến lúc này là tập Ý THƠ do nhà XB Lao Động in vào năm 1992 theo dạng bỏ túi gồm 20 đỏan khúc. Tháng giêng 2007 NXB Hội Nhà văn ấn hành tập THƠ PHẠM VĂN HẠNG gồm 29 bài thơ viết và chuyển ngữ 3 thứ tiếng Anh Pháp Hoa với những nhận xét cảm nhận của các nhà văn học giả như Trần Phong Giao Khổng Đức Trinh Đường Nguyễn Văn Xuân Nguyễn Trọng Văn v.v…THƠ PHẠM VĂN HẠNG đã được thể hiện bằng chất liệu và kỹ thuật gò nổi trên đồng kích thước 50 X 65cm nặng khỏang trên dưới 250 cân với sự trợ lý kỹ thuật của người học trò Nguyễn Thanh Phong mất gần mười năm mới hòan thành để “ kỷ niệm 65 năm học làm người” của Phạm Văn Hạng.

Ngồi nói chuyện với Phạm Văn Hạng tối ngày 19/ 3/ 2011 là những nhà văn nhà thơ tham dự trại sáng tác Hội Nhà văn VN tại Đà Lạt gồm có Phan Thị Thanh Nhàn Nguyễn Vũ Tiềm Lò Cao Nhum Bùi Kim Anh Nguyễn Thị Ngọc Hà Nguyễn Thị Mai Trần Hòang Vy Hùynh Thị Thu Trang Nguyễn Hiệp và Nguyễn Tấn On nhà thơ của Đà Lạt Khaly Chàm của Tây Ninh sau khi … sơ giao vài ly rượu Phạm Văn Hạng nói: “ Kể từ bây giờ không ai được gọi tôi bằng anh chú bác gì cả! Chỉ gọi bằng… Hạng thôi nhé?” ranh giới thứ tự tuổi tác đã được xóa bỏ không khí chan hòa đầm ấm của tình nghệ sĩ có ai đó đề nghị Phạm Văn Hạng đọc thơ. Ông cười hiền và nói chờ…cảm hứng. Vậy là… khách đọc trước đến phiên ông ông chỉ đọc thơ của bạn bè tuyệt nhiên không đọc thơ mình. Hỏi ông chỉ nhắc lại câu nói cũ : “ Tôi chỉ là người tập tễnh làm thơ…”.

“ Tập tễnh” hiểu như thế nào thì anh Nguyễn Trọng Văn đã phân tích khá kỷ trong tập thơ của Phạm Văn Hạng rồi không nhắc nữa song tôi cứ ám ảnh mãi câu trả lời phỏng vấn của Hạng khi ông trả lời phỏng vấn của một nhà báo là “ Người làm thơ sao mà dễ quá! Tôi bạc tóc mới có 1 tác phẩm thơ.” Ẩn tình sâu xa lắm bởi hai chữ “ tập tễnh” của Hạng tôi đành để quyền suy xét cho mọi người vậy khi mà đất nước ta có quá nhiều “nhà thơ” và thơ được in ra nhiều hơn nấm mọc sau mưa!

Tôi lại sa vào câu nói nữa của Phạm Văn Hạng “ Người làm thơ có thể… nghèo bởi chỉ cần một mảnh… báo vụn người làm thơ cũng có thể chép lên đó bài thơ mình làm còn làm điêu khắc không thể… nghèo vì phải mua vật liệu rất nhiều tiền. Nghèo là hèn là nhục!?.” Tôi được biết một giai thọai Hạng làm điêu khắc là để trả… “hận tình” còn Hạng làm thơ là để trả… cái gì? Khi trong thơ Hạng đầy những trăn trở và day dứt không nguôi? May mắn và cơ duyên làm sao khi chỉ có riêng mình tôi được Phạm Văn Hạng ký tặng tập Thơ Phạm Văn Hạng và một tập bản thảo viết tay ( photo) ngòai bìa đề “ Tập tễnh làm thơ. 1990- 2010 và chữ ký của tác giả” ( Hạng nói riêng với tôi là không còn… đủ để tặng cho mọi người” thôi thì cũng là “ Chữ duyên còn một… tập này làm tin” vậy.

Thơ Hạng là triết lý nhân sinh hay là của Thiền nhân nhập định khi mà những hình khối của tượng chưa đủ sức chuyên chở hết tâm tình của Hạng? Này nhé: “ Những tấm gương/ luôn vỡ/ Sự/ phản chiếu/ không/ mòn” hay như “ Những con rối/ được sống/ Nhờ bàn tay/ nghĩ suy/ Những con rối chỉ huy/ Chỉ còn đầy/ nước mắt” ( trang 11 15 Thơ PVH). Cái chất nghệ sĩ trong con người khi cầm bay cầm đục làm ra một bức tượng quí giá với giá trị nhân văn và cái chất hạo khí của thơ có bổ sung cho nhau khi mà: “ Những bức tượng/ trong vườn òa ra khóc/ Khi nhân văn/ bị sĩ nhục giam cầm/ Đá/ Gỗ/ Sắt/ Đồng/ Không thể lặng câm” (trang 63 Thơ PVH).

Thiên hạ ngày xưa và cả ngày nay cất công “ngậm ngãi tìm trầm” cái hương liệu quí giá được ví với phẩm chất con người. Phạm Văn Hạng viết “ Trầm/ không khoe/ sắc thắm/ Hương/ bay vờn khói mây/ Ngát mùi/ Xa tục lụy/ Lâng/ lâng/ hồn vô ưu” ( trang 91). Cái cốt cách “ trầm” ấy có mấy ai “ngộ” được nếu không là người đắm chìm trong suy tưởng. Hiểu từng mảnh vụn của đá bụi do mình đục ra?  

 Cái giọt nước nhỏ bé trong ta bà thế giới này ít ai nhìn thấy được “ Giọt/ nước trong/ Đọng/ bụi trần/ hư ảo”( bản thảo). Con mắt tinh đời siêu nhìn đã thấy rất rõ những “bụi trần” thì quả là tài! Ca tụng Hạng cũng giống như làm cái việc “khen phò mã tốt áo” nhưng thấu hiểu cảm xúc của ông thì chỉ có ông mới “ Cảm xúc/ đã tan bay/ phấn son cùng hương liệu/ đắp đầy hình vô tri/ nặn người không thành tượng/ vẽ mãi người ra ma/ cầm ca ma thành thánh/ phủ dụ/ quỷ hơn người” ( bản thảo trang 9). Những lời hay ý đẹp những ý tưởng nhân sinh của người hiền minh thường cô đọng. Ngắn nhưng súc tích hàm chứa nhiều tầng ý nghĩa. Thơ Hạng không biết có phải như thế không mà có từng câu từng chữ đụng chạm vào trái tim của mỗi người “ Gạn từng tỉ năm/ ánh sáng/ chưa/ thẩm thấu/ một/ giọt/ tình” (trang 13 bản thảo).

Thơ không câu nệ cái vỏ hình thức chẳng cần vần điệu nhưng ngẫm mà xem cái thổn thức cái đau đáu của trái tim người nghệ sĩ đã vượt qua ngưỡng cửa “xưa nay hiếm” nó thân phận nó chà xát những lơ mơ ý tưởng. Câu chữ không là tượng đồng bia đá mà cứ nặng trĩu song lại như những hạt bụi khi người làm điêu khắc gọt dũa những công trình. Những hạt bụi làm ta xốn xang và cay mắt đến bất ngờ.

Tôi nghĩ: Nhà thơ Trinh Đường khi nhận xét về thơ Phạm Văn Hạng đã có những câu thật chí lý: “ Có cảm giác PVH vừa tìm ra được một cách biểu âm mới một chìa khóa bí mật để đọc một lối chữ tượng hình mới. Thơ PVH hầu hết là những nguyên lý rút ra từ đời sống nhiều tư tưởng như được phát quang từ những nơi tiềm ẩn của chính chúng ta” ( trang 126 Thơ PVH). Nhà lý luận phê bình Khổng Đức Đinh Tấn Dung dẫn lời nói của Edgar Poe để kết luận về thơ PVH “ Không cần phải tạo ra những câu thơ hay đẹp mà phải là những câu thơ đầy ý thức. Một tác phẩm xuất sắc chỉ nên căn cứ vào mức độ ý thức của nó”.

Với tôi ư phiêu linh trong những miên man có khi còn hạn chế của mình cái chất “quỷ” của Phạm Văn Hạng dường như có cả chất “quái nhân” “kỳ nhân” và cả “hiền nhân” tôi cố gắng làm hạt bụi kết dính vào cái cõi thơ ma quỷ- thần Phật của ông mà chiêm nghiệm may mà ngộ chút ít để “ Có thương đau/ mới thẩm thấu cuộc đời/ Có suy tưởng/ mới/ tìm/ ra/ hư/ thực” vậy…

 

                                            NST Đà Lạt 26/ 3/ 2011

                                                        T. H. V.

  (*) Chữ viết theo ý PVH   

More...